vanban.org

Bản án 39/2019/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thùy L được ly hôn với anh Huỳnh Văn V.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Phú H, sinh ngày 17/02/2017 (giới tính nam) cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị L không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Khi cần thiết, chị L có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Huỳnh Thùy L; bị đơn: Huỳnh Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thùy L được ly hôn với anh Huỳnh Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:39/2019/HN-ST
Ngày: 22/8/2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Hoa

2. Ông Lưu Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Trần Thị Thùy Trang, thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đông Hải, kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2019/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2019/QĐST – HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thùy L, sinh năm: 1992. Cư trú: Ấp XNA, xã TT, huyện AM, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

* Bị đơn: Anh Huỳnh Văn V, sinh năm: 1987. Cư trú: Ấp 9B, xã TH, huyện AM, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thùy L trình bày và yêu cầu như sau: Chị L và anh Huỳnh Văn V tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn UBND xã TH, huyện AM, tỉnh Kiên Giang vào ngày 20/7/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sinh sống tại ấp 9B, xã TH, AM, Kiên Giang.

Trong quá trình vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi nhau, mặc dù đã có gắng nhẫn nhịn để hàn gắn tình cảm nhưng đến nay không có kết quả. Vợ chồng đã thật sự ly thân nhau từ tháng 12/2018 cho đến nay.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Phú H, sinh ngày (18/02/2017). Cháu đã có giấy khai sinh và hiện nay đang chung sống cùng chị L.

Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng không tạo lập được tài sản chung.

Về nợ chung: Không có.

Chị L yêu cầu:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn V.

- Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Phú H (sinh ngày 18/02/2017), không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Huỳnh Văn V trình bày và yêu cầu như sau: Qua lời trình bày của chị L về ngày vợ chồng chung sống, có đăng ký kết hôn, có 01 con chung hiện nay đang chung sống cùng chị L, không có tài sản chung, không có nợ chung và nguyên nhâu mâu thuẫn là đúng sự thật.

Anh V yêu cầu:

- Về hôn nhân: Anh V đồng ý ly hôn với chị Huỳnh Thùy L.

- Về con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Huỳnh Phú H, sinh ngày18/02/2017, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Chị L yêu cầu: Được ly hôn với anh Huỳnh Văn V; yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Phú H (sinh ngày 18/02/2017), không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Anh V: Vắng mặt không có lý do.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự;

Đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay phía nguyên đơn chị L đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định; phía bị đơn anh V vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 72 BLTTDS gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa chị L và anh V; Về con chung, áp dụng khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không có tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn V là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình và khi chị L khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án giải quyết và hiện nay bị đơn anh V, đang cư trú và sinh sống tại ấp 9B, xã Thuận Hòa, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Qua yêu cầu của các đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh V chung sống với nhau từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn UBND xã Thuận Hòa, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang vào ngày 20/7/2015 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của chị L về việc ly hôn với anh V, HĐXX xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án giữa chị L và anh V xác nhận sau khi kết hôn và qua thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi, luôn bất đồng quan điểm với nhau nên anh chị đã ly thân từ tháng 12/2018 cho đến nay. Ngoài ra, anh V cũng xác định, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân giữa anh chị không thể kéo dài nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị L. Mặc dù, chị L và anh V thống nhất ly hôn nhưng anh chị không thỏa thuận được về việc nuôi con chung nên HĐXX không thể ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa anh chị mà chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho chị L được ly hôn với anh V.

Về quan hệ con chung: Xét yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Huỳnh Phú H (sinh ngày 18/02/2017) của chị L và của anh V, HĐXX xét thấy từ khi chị L và anh V ly thân thì chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục cháu H cho đến nay và theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Do đó, chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giao cháu H cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, không chấp nhận yêu cầu được nuôi con của anh V. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh V xác nhận không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc nguyên đơn chị Huỳnh Thùy L phải chịu án phí số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản Điều 55, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thùy L được ly hôn với anh Huỳnh Văn V.

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Phú H, sinh ngày 17/02/2017 (giới tính nam) cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị L không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Khi cần thiết, chị L có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thùy L chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0006266 ngày 17/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Chị L không phải nộp thêm.

4. Quyền kháng cáo: Chị L có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/8/2019).

Riêng anh Huỳnh Văn V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ