vanban.org

Bản án 39/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Xử phạt bị cáo 17 ( Mười bảy ) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2018. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2018/HS-ST
Ngày: 30-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hữu Ý

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Vũ Đức Bính

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Thành, thư ký Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Văn B, sinh năm 1991; nơi sinh và cư trú: xóm 3, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Đỗ Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 17/5/2018 chuyển tạm giam tại tại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình ngày 18/5/2018(có mặt ).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn C, sinh năm 1960; trú tại: xóm 3, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình.( có mặt)

Người làm chứng: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1994; trú tại: xóm 13, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình và anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1988; trú tại: xóm 5, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( đều vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn B là người sử dụng trái phép chất ma túy; sáng ngày 17/5/2018 B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35K1- 289.45 từ nhà xuống thị trấn P, huyện K, tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến cống “T” địa điểm giáp danh giữa thị trấn P và xã K, huyện K, B gặp một người thanh niên không quen biết hỏi và mua được của người này 01 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ giá 200.000đ. Khoảng 8 giờ 05 phút cùng ngày khi đi đến đoạn đường phía nam sông  thuộc xóm 7a, xã K, huyện K thì dừng xe định mở gói ma túy ra xem thì bị tổ công tác Công an huyện K đang tuần tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của B 01 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ và 01 xe máy biển kiểm soát 35K1- 289.45.

Tiến hành mở niêm phong gói ma túy thu giữ của B bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, cân xác định trọng lượng là 0,34 gam ký hiệu M gửi trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 95/KLGĐ-PC54-MT ngày 18/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3408 gam là chất ma túy, loại Hêrôin.

Bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 09/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những chứng cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 08 giờ 05 phút ngày 17/5/2018 tại đoạn đường phía nam sông  thuộc xóm 7A, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Công an huyện K đã phát hiện bắt quả tang bị cáo đang cất giữ bất hợp pháp 0,3408 gam hêrôin với mục đích sử dụng, hành vi và khối lượng hêrôin thu giữ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điển c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về nguồn gốc Hêrôin: bị cáo khai mua của một người thanh niên không quen biết ở cống “T” địa điểm giáp danh giữa thị trấn P và xã K, huyện K; nhưng không biết tên, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra xử lý.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ chiếc xe máy BKS 35K1-289.45 thu giữ từ bị cáo là của ông Trần Văn C ( Bố của bị cáo) ông C không biết bị cáo lấy xe để đi mua ma túy, nên cơ quan điều tra Công an huyện K đã trả lại chiếc xe máy nêu trên cho ông C.

Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 95/2018/GĐMT bên trong có vật chứng còn lại sau giám định là 0,2397 gam hêrôin và vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong gói nhỏ bên trong có vỏ giấy trắng dòng kẻ thu giữ của bị cáo đây là vật nhà nước cấm tàng trữ và là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Xử phạt bị cáo 17 ( Mười bảy ) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2018.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 95/2018/GĐMT bên trong có vật chứng còn lại sau giám định là 0,2397 gam hêrôin và vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong gói nhỏ bên trong có vỏ giấy trắng dòng kẻ thu giữ của bị cáo.

3. Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Án xử sơ thẩm công khai bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ