vanban.org

Bản án 39/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 23/2/2018
V/v: Ly hôn giữa chị Tỉnh và
anh Nam

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thiều Thị Phi Loan – Ủy ban mặt trận tổ quốc

2. Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang là thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hoàng Oanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1970/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số 161/33, tổ 9, khu phố 3, phường L, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Số 161/33, tổ 9, khu phố 3, phường L, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh N vắng mặt không lý do tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện 18/9/2017, bản tự khai và tại các buổi hòa giải chị Đinh Thị T trình bày:

Chị và anh N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 21/8/1999. Kể từ thời điểm kết hôn cho đến hiện nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau. Nguyên nhân, mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh N thường xuyên nhậu nhẹt, ngoài ra anh N còn có những lời lẽ xúc phạm chị. Dù hai bên đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng vẫn không thể đoàn tụ để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nay chị không còn tình cảm yêu thương với anh N nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Huỳnh Thị B, sinh ngày 17/2/2000 và cháu Huỳnh Hữu Ng, sinh ngày 27/5/2009. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi các con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 30/10/2017 bị đơn anh Huỳnh Văn N trình bày: Anh N thừa nhận anh đã có nhiều lần xúc phạm chị T, anh hứa sẽ sửa đổi tính tình và đề nghị Tòa án cho anh thời gian 01 tháng để anh và chị T hòa giải hàn gắn đoàn tụ với nhau.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Nai:

Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị T được ly hôn với anh N. Về con chung: Giao cháu B, sinh ngày 17/2/2000 và cháu Huỳnh Hữu Ng, sinh ngày 27/5/2009 cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh N tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Bị đơn không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn chị Đinh Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn N căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định chị T là nguyên đơn, anh N là bị đơn trong vụ án.

Chị Đinh Thị T và anh Huỳnh Văn N đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống làm việc tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn chị Đinh Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08/01/2018. Bị đơn anh Huỳnh Văn N đã được Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không lý do; căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh N.

. Nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T và anh Huỳnh Văn N tự nguyện kết hôn, có làm thủ làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 21/8/1999 nên áp dụng vào các Điều 5, 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, chị T xác định chị không còn tình cảm với anh N, do anh N không quan tâm đến cuộc sống chung của vợ chồng, các bên có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, anh N thường xuyên nhậu nhẹt, có những lời lẽ xúc phạm chị nên chị đề nghị được ly hôn với anh N. Đồng thời, anh N cũng thừa nhận anh có nhiều lời lẽ xúc phạm chị T. Theo biên bản xác minh ngày 07/12/2017, địa phương nơi chị T và anh N thường trú cung cấp thông tin cho biết, quá trình chung sống vợ chồng giữa chị T, anh N có mâu thuẫn. Tuy nhiên, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa 02 người như thế nào thì địa phương không nắm rõ. Như vậy, cho thấy cuộc sống hôn nhân của chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh N đã được Tòa án tiến hành nêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa là không thực hiện đúng nghĩa vụ của bị đơn, từ đó cho thấy anh N có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Huỳnh Thị B, sinh ngày 17/2/2000 và cháu Huỳnh Hữu Ng, sinh ngày 27/5/2009. Ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi các con chung. Xét đề nghị này của chị T là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, anh N thường xuyên nhậu nhẹt, có những lời lẽ thiếu kiềm chế sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về mặt tâm sinh lý của con trẻ. Mặt khác, cháu B và cháu Ng đều có mong muốn được ở với chị T nên việc giao 02 con chung cho chị Tỉnh trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, anh N vắng mặt không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 68, 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng vào các Điều 5, 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;

Áp dụng các Điều 51, 56, 71, 81, 82, 83, khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị T đối với bị đơn anh Huỳnh Văn N về việc tranh chấp ly hôn.

Tuyên xử:

Chị Đinh Thị T, sinh năm 1976 được ly hôn với anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1971.

Giao con chung là cháu Huỳnh Thị B, sinh ngày 17/2/2000 và cháu Huỳnh Hữu Ng, sinh ngày 27/5/2009 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản anh N thực hiện quyền này. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, anh N vắng mặt không có lời khai nên nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 002740 ngày 05/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Chị T, anh N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ