vanban.org

Bản án 39/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thân T;

2- Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn M nuôi 02 con Phạm Văn T', sinh ngày 16 tháng 8 năm 2010; Phạm Tuấn A, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2012; giao cho chị Nguyễn Thị Thân T nuôi con Phạm Văn B, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2015, đến khi các con đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Văn M - Nguyễn Thị Thân T"
  • Tòa quyết gì? 1- Anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thân T;
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2018/HNGĐ-ST
Ngày 01-8-2018
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TP HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Duy Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ninh Văn Hùng

Bà Bùi Thu Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở toà án nhân dân huyện A tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2018, về việc "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 874/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn M; trú tại: Thôn L, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thân T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng,vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 3 năm 2018, và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện A anh Nguyễn Văn M trình bày:

1.Về quan hệ hôn nhân: Anh M và chị Nguyễn Thị Thân T kết hôn với nhau năm vào 2009, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 9 năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn L, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không thống nhất về việc phát triển kinh tế gia đình và nuôi dậy con cái, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, chị T có thái độ không đúng mực, xúc phạm bố mẹ, anh chị em anh M, tháng 2 năm 2017 do mâu thuẫn trầm trọng chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã T để sinh sống, tháng 10 năm 2017, anh M có đón chị T để vợ chồng về đoàn tụ, tuy nhiên chỉ được 01 tháng vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn, chị T lại bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng tiếp tục sống ly thân nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh M gia đình, địa phương đã nhiều lần hòa giải, khuyên nhủ, nhưng không có kết quả. Nay anh M thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện A giải quyết cho anh M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thân T.

2. Về con chung: Anh Phạm Văn M và chị Nguyễn Thị Thân T có 03 con chung là Phạm Văn T', sinh ngày 16 tháng 8 năm 2010; Phạm Tuấn A, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2012; Phạm Văn B, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2015, ly hôn anh M yêu cầu được cả 03 con, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Anh M trình bày anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thân T đã được tòa án nhiều lần triệu tập đến tòa để giải quyết vụ án theo yêu cầu anh Phạm Văn M, nhưng chị T đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến về việc khởi kiện của anh M.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là anh Phạm Văn M có đơn khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, chị Nguyễn Thị Thân T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến tòa theo giấy triệu tập của tòa án là chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đề nghị giải quyết anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thân T, giao cho anh M được nuôi cả 03 con chung Phạm Văn T', Phạm Tuấn A, Phạm Văn B, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyên Thị Thân T, anh M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của bị đơn chị Nguyễn Thị Thân T: Chị Nguyễn Thị Thân T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 không có lý do, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thân T.

- Về yêu cầu của nguyên đơn anh Phạm Văn M:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa Phạm Văn M kết hôn với chị Nguyễn Thị Thân T, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 9 năm 2009, tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện A, Hải Phòng, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống anh M và chị T đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do sau khi sinh con thứ 03 vào năm 2015, chị T thay đổi tính nết, nghi ngờ anh M về tình cảm, kinh tế, công việc, có lời nói hành đồng không đúng mực với bố mẹ, anh chị em của anh M vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến tình trạng cuộc sống chung của vợ chồng luôn nặng nề, căng thẳng, mâu thuẫn kéo dài, mặc dù gia đình, chính quyền địa phương khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, tháng 02 năm 2017 chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh M có lên đón chị T về nhưng chỉ được một thời gian ngắn, vợ chồng lại mâu thuẫn cãi nhau, anh M chị T lại tiếp tục ly thân nhau từ tháng 12 năm 2017. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu thuẫn của anh M, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh M xin ly hôn chị T là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của anh M được ly hôn chị T.

Về con chung: Anh M và chị T có 03 con chung là Phạm Văn T', sinh ngày 16 tháng 8 năm 2010; Phạm Tuấn A, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2012; Phạm Văn B, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2015. Anh M có yêu cầu được nuôi cả 03 con, chị T không có yêu cầu về việc nuôi con. Xét thấy bản thân anh M, chị T đều có nghề nghiệp, có thu nhập, đảm bảo được điều kiện nuôi con; việc anh M nuôi cả 03 con sẽ không đảm bảo điều kiện, quyền lợi mọi mặt của các con anh M chị T; hơn nữa cháu Phạm Văn B tính đến ngày xét xử chưa đủ 03 tuổi. Nên căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh M được nuôi dưỡng 02 con Phạm Tuấn A và Phạm Văn B, giao cho chị T nuôi con Phạm Văn B là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với bên nào.

Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Anh M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 56, 57 và Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thân T;

2- Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn M nuôi 02 con Phạm Văn T', sinh ngày 16 tháng 8 năm 2010; Phạm Tuấn A, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2012; giao cho chị Nguyễn Thị Thân T nuôi con Phạm Văn B, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2015, đến khi các con đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở.

3. Về án phí: Anh Phạm Văn M phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002823 ngày 14 tháng 3 năm 2018, của Chi cục Thi hành án huyện A, anh M đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo bản án:

Anh PhạmVăn M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Nguyễn thị Thân T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định cảu pháp luật.

Cỡ chữ