vanban.org

Bản án 39/2018/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 15/03/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp quyền sở hữu tài sản gắn liền quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 Về giao dịch dân sự về n…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

39/2018/DS-PT
15 - 3 - 2018
V/v Tranh chấp quyền sở hữu
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

–

Ông Lê Tự

Ông

Ông

Ông

-

.

tham gia phiên

: Ông Quách Đức Dũng-

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2017/TLPT-DS ngày 16/11/2017 về việc: “Tranh chấp quyền sở hữu

quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2016/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50A/2017/QĐ-PT ngày 28/02/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Trọng K - sinh năm 1946; Nơi cư trú: Số 08/17 Đường N, phường X, thành phố T, Phú Yên.

Bị đơn:

1.Bà Võ Thị Đ - sinh năm 1937; Nơi cư trú: Thôn Y, xã C, huyện C, Khánh Hòa.

2. Ông Võ Văn Q - sinh năm 1969; Nơi cư trú: Khu phố 5, đường V, phường P, thành phố T, Phú Yên.

3. Ông Võ Trọng K1 - sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị Ch - sinh năm 1940; Địa chỉ: (CA 92647), Hoa Kỳ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Lê Đăng B - sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện Đ, Phú Yên. 2. Bà Huỳnh Thị N; Địa chỉ: CA 92865, Hoa Kỳ.

kháng cáo: Bà Võ Thị Đ - Ông Võ Văn Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2010, nguyên đơn ông Vũ Trọng K trình bày:

Năm 1963, anh của ông là Vũ Ngọc Th cùng bà Huỳnh Thị N có khai phá một đám đất. Đ n năm 1964, ông và ông Th xây dựng ngôi nhà tranh vách đất cho ông và mẹ ông là bà Trần Thị N1 ở, nay là nhà mang số 43/15 Đường N, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Năm 1966, ông Th và bà N có làm tờ giao hứa chuyển nhượng nhà đất cho mẹ con ông với diện tích 352 m2 chia thành 02 phần: ông ở phần phía Nam, mẹ ông ở phần phía Bắc. Trong tờ giao hứa chuyển nhượng nhà và đất có nói rõ: khi nào mẹ ông chết thì ông được quyền quyết định phần đất của mẹ ông. Năm 1970 ông chuy n công tác vào t nh Khánh Hòa, nhà và đất giao mẹ ông quản lý. Nàm 1971 ông Võ Trọng K1 cưới vợ bà Nguyễn Thị Ch, lúc này mẹ ông cho vợ chồng ông K1 ở nhờ nhà này. Năm 1975 ông Võ Trọng K1 đi cải tạo, đến năm 1980 ông K1 được về và cùng nhà

ông. Năm 1986 ông K1 có xin chính quyền địa phương sửa lại nhà cho mẹ ở, Năm 1991 ông Võ Trọng K1 đi Mỹ, vì không có tiền nên mẹ ông phải đ ng tên thục nhà

cho ông Lê Đăng B đ vợ chồng ông K1 có tiền đi Mỹ. Trong giấy chấp thục nhà, ông K1 tự ý ghi và ký tên ông chứ ông không biết. Năm 1997, mẹ ông qua đời có giao lại giấy thục nhà cho ông nên ông mới phát hiện ra việc ông K1 giả chữ ký để làm giấy thục nhà. Năm 2000 mãn hạn thục nhà, ông Lê Đăng B đã trả lại nhà cho ông quản lý. Ông có nhờ chị là Võ Thị Đ và cháu là Võ Văn Q tạm trú để trông coi nhà cửa nhưng sau đó họ ở luôn không chịu

, họ nói là: Nhà này của ông Võ Trọng K1 và bà Nguyễn Thị Ch chứ không phải của ông,

Ông khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sở h ngôi nhà v quyền sử dụng đất thuộc địa chỉ 43/15 Đường N, phường X, thành ph T; buộc bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn Q trả lại nhà và đất cho ông.

Bị đơn bà Võ Thị Đ trình bày:

Trước đây vào khoảng năm 1962, chú bà là Võ Thái Ng và em bà là Võ Trọng K1 có khai phá một thửa đất, sau đó xây dựng ngôi nhà tranh vách đât (nay là 43/15 Đường N, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên). Năm 1971 em bà cưới vợ là Nguyễn Thị Ch và ở tại ngôi nhà trên. Vì thời gian lâu, nhà xuống cấp và hư hỏng nặng nên năm 1972 ông K1 sửa chữa nhà lần đầu có xin phép chính quyền địa phương, năm 1986 tiếp tục sửa chữa và có hiện trạng như hiện nay. Năm 1991 Võ Trọng K1 xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo diện HO. Đ có tiền chi phí chuyến đi, em bà có thục

ngôi nhà cho ông Lê Đăng B, gi y thục nhà ông K có ký xác nhận. Vào tháng 8 năm 2000 vợ chồng em bà về nư c và hoàn đủ số tiền thục nhà cho ông Lê Đăng B, sau đó em bà thiết lập bàn thờ ông bà và mời bà ra để lo hương khói, có mặt họ tộc chứng kiến.

Năm 2000 đến năm 2003 bà trông coi nhà nhưng vì tuổi già, đi lại khó khăn nên bà có nh ông Vũ Trọng K đứng tên nộp thuế đ t, tiền nộp thuế là do em bà bên Mỹ gửi về. Năm 2003 Nhà nước có chủ trương điều chỉnh bản đồ địa chính, ông K xin điều chỉnh từ ông Lê Đăng B chuyển sang Vũ Trọng K. Năm 2005 ông K dựa vào biên lai nộp thuế nhà đất tiến hành làm trích lục bản đồ địa chính và yêu cầu các cấp xác nhận, để ông K đứng tên sở hữu chủ ngôi nhà 43/15 Đường N, phường X, thành phố T nhưng UBND phường 5 không giải quyết vì ông không có giấy tờ chứng minh quyền hợp pháp của ngôi nhà này.

Bà không đồng ý với yêu cầu k

của ông K về việc trả lại nhà, vì nhà và đất thuộc quyền sở hữu của ông Võ Trọng K1.

Bị đơn ông Võ Văn Q trình bày:

Ông là cháu ruột của ông Vũ Trọng K và Võ Trọng K1, ông chỉ ở để trông coi nhà cửa, lo hương khói ông bà, không liên quan gì đến nhà và đất nêu trên.

Theo ông thì nguồn gốc nhà và đất tại 43/15 Đường N, thành phố T là do ông nội thứ Võ Thái Ng và chú Võ Trọng K1 khai hoang vào năm 1964. Ông Th trước đây có khai phá một mảnh đất bên cạnh (nay là 41/15 Đường N) đã bán, hiện nay bà Phấn đang sử dụng. Sau đó, ông K1 xây dựng nhà tranh, vách đất đưa mẹ là bà N1 từ Hòa Hiệp về sống tại căn nhà trên. Năm 1972, ông K1 sửa lại nhà và cùng s

với bà nội (bà N1). Đ năm 1986 ông K1 sửa lại nhà như hiện trạng ngày nay.

Năm 1990-1991 ông K1 thục lại nhà đất trên cho ông Lê Đăng B, lúc thục nhà bà N1 đứng tên đ cho thục, có sự chứng kiến của con cháu trong nhà và ông K1, ông K cũng đồng ý ký tên và giấy thục nhà trên. Năm 2000, vợ chồng ông K1 về nước chuộc lại nhà từ ông Lê Đăng B và có sự ch

kiến đầy đủ của chú bác, anh em trong họ, sau đó gia đình họp và đồng ý gọi cô S (bà Đ) t Cam Ranh về trông coi, lo hương khói ông bà.

Đối với văn bản giấy hứa cho đất giữa ông Th và ông K, ông Q cho rằng là giả vì lúc họp gia đình, ông K không đưa ra bàn bạc hoặc xuất trình trước dòng họ mà sau này lợi dụng sự tin tưởng của gia đình, ông K làm giấy t nhà và kiện đòi nhà và đất. Nhưng qua trao đổi với vợ chồng ông K1, ông thấy không cần thiết

trưng cầu giám định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Đăng B trình bày: Ông là cháu của bà Nguyễn Thị Ch (vợ của ông Võ Trọng K1), về ngu n gốc đất tại số 43/15 Đường N, phường X, thành phố T ông không biết của ai nhưng nhà là do ông K1 xây dựng và vợ chồng ông K1 bà Ch đã đó từ rất lâu, trước khi chấp thục ngôi nhà đó cho ông. Vì cần tiền nên năm 1991 vợ chồng bà Ch đã đứng ra

chấp (thục) ngôi nhà cho ông, ông trực tiếp đưa tiền cho vợ chồng bà Ch. Khi làm giấy thục nhà ông không nhớ rõ thành phần những người tham gia. Ông ở đó từ năm 1991 đến năm 2000 và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Trong th gian ông ở tại nhà trên, những người ký trong giấy thục nhà đều không cản trở và có ý kiến gì. Đ n năm 2000, vợ chồng bà Ch trực tiếp trả lại ti n thục nhà cho ông và ông trả nhà lại cho vợ chồng bà Ch, ngoài ra ông không biết gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị N trình bày: Năm 1964 bà cùng chồng là ông Vũ Ngọc Th có

đất và nhà (hi n nay mang số 43/15 Đường N, thành phố T). Vợ chồng bà đã làm giấy tờ giao hứa cho em chồng c bà tên Vũ Trọng K nhà và đất có sơ đồ ở mặt sau. Phần còn lại để mẹ chồng bà là Trần Thị N1 trông coi, khi mẹ qua đời thì em chồng bà là ông K được trọn quyền sở hữu phần còn lại. Nay N1

Th đã chết, bà giao lại hai thửa đất gắn liền với nhà ở cho em chồng là Vũ Trọng K được toàn quyền sử dụng

đất nói trên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2016/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2016, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định:

“Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Trọng K theo đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2010.

Công nhận toàn bộ tài sản gồm nhà, vật kiến trúc, cây cối gắn liền quyền sử dụng đất c diện tích 352 m2 thuộc tờ bản đồ số 9, thửa 102 (được chỉnh lý năm 2004) tọa lạc tại 43/15 Đường N, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sở hữu của ông Vũ Trọng K theo như sơ đồ hiện trạng và biên bản định giá tài sản do Hội đồng định giá Tòa án nhân dân tỉnh Phú yên lập ngày 16/12/2011.

Buộc Bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn Q và vợ chồng ông Võ Trọng K1, bà Nguyễn Thị Ch phải có nghĩa vụ giao cho ông Vũ Trọng K quyển sử dụng đất và tài sản gắn liền quyền sử dụng đ đúng như hiện trạng nêu trên, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu của ông Vũ Trọng K.

Ông Vũ Trọng K phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Võ Trọng K1 117.475.146 đồng (một trăm mười bảy triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn một trăm bốn mươi sáu đồng) về phần giá trị tài sản có trên đất. Đối với khoản tiền này do hiện nay ông K1 và bà Ch ở nước ngoài, nên cần tạm giao cho bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn Q nhận và quản lý khi bản án có hiệu lực pháp luật đưa ra thi hành.

Đối với tiền công sức quản lý, tôn tạo và hương khói cho ông bà các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.”

Văn Q

kháng cáo

k

nguyên đơn

-

không

không

-

K1. Năm 1990,

K1

Ch

G

.

- Năm 1991 vợ chồng

K1

, năm 1999 vợ chồng

K1

ông Lê Đăng B

Đường N, phường X, thành phố T.

kháng cáo

kháng cáo.

sai

không k

K1

Ch

không bị đơn

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

N1

N1

không khai.

nguyên đơn

bị đơn

Th

. [1]

352 m2 tọa lạc tại 43/15 Đường N, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên. [2] V

,

nhau. Theo nguyên đơn ông

,

ông Th

năm 1963. B

Q

K1 1964.

K1

ông K1

không

K1

;

ông K1

: “N

T

1

;

do ông K1

:

43/15 Đường N, phường X

T [3] Theo

, ông Lê Văn A

,

địa chỉ 43/15 Đường N, phường X, thành ph T do vợ chồng ông Th

A,

K1

năm 1963 (b [4]

ông Vũ Ngọc Th bà Huỳnh Thị N khai hoang

năm 1963. Đ n năm 1964, ông Th xây dựng ngôi nhà tranh vách đất cho mẹ là bà Trần Thị N1 ở

N1

V K,

ông K

. Năm 1971, ông K1 cưới vợ

mẹ bà Trần Thị N1 trong ngôi nhà này.

ăm 1986 ông K1 có sửa

vợ chồng ông K1

bà Trần Thị N1

Q [5] Nguyên đơn

ông Th, bà N

q

n

địa chỉ 43/15 Đường N, phường X, thành ph T;

. [6] gia

ông Th, bà N

cho

Th, bà N

N1

Bà N đang định cư ở nước ngoài. [7]

ghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27 tháng 7 năm 2006 của ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia. [8]

“2. Trường hợp có tranh chấp về hợp đồng tặng cho nhà ở và thủ tục chuyển quyền sở hữu chưa hoàn tất thì giải quyết như sau:

a) Bên được tặng cho đã nhận nhà ở thì xác lập quyền sở hữu nhà ở cho bên được tặng cho;

b) Bên được tặng cho chưa nhận nhà ở thì hợp đồng tặng cho nhà ở bị huỷ bỏ, trừ trường hợp có thoả thuận khác.” [9] B

ông K

, ông K

Th 1997, bà Trần Thị N1 [10]

không

toàn bộ tài sản gồm nhà, vật kiến trúc, cây cối gắn liền quyền sử dụng đất c diện tích 352 m2 thuộc tờ bản đồ số 9, thửa 102 (được chỉnh lý năm 2004) tọa lạc tại 43/15 Đường N, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sở hữu của ông Vũ Trọng K, l

.

[11]

V

Th

Ông Th

không

1997

N1

Theo Ủy ban nhân dân thành phố

:

-

.

-

ông Lê Đăng B

.

-

Ch

ông V

. [12] Ông Lê Đăng B

do năm 1991 ông B [13]

ông V T

đang

không

, ông K

Ch

ông V

không

Điều 100 năm 2013.

Điều

Điều 203

năm 2013

cho ông V

pháp luật. [14]

K1

“

” “

”, ông K1

N1

năm 1963. [15]

bà Trần Thị N1 năm 1997 không

cho ông Lê Đăng B

N1

N1

tại 43/15 Đường N, phường X, thành phố T;

N1

đương sự

k

Tòa án

tại 43/15 Đường N, phường X, thành phố T.

[16]

v

ung k

, ông V

k

bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn Q,

địa chỉ 43/15 Đường N, phường X

T, buộc bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn Q trả lại nhà và đất.

bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn Q

vợ chồng

K1

3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự

vợ chồng K1

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự

.

không

2 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[17]

. [18]

kháng cáo

bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn Q

. [19]

kháng cáo không

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn Q;

Điều 19 Nghị quyết của

ban Thường vụ Quốc hội số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27 tháng 7 năm 2006 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Điều 100

.

Xử:

1.

yêu

k

ông V

.

2.

Ông V

án phí

biên lai số 00538 ngày 03/6/2011 của Cục Thi hành án dân sự

ông V

4.800.000đ.

3.

bà Võ Thị Đ 200.000đ

t biên lai số 0000965 ngày 21/11/2016 của Cục Thi hành án dân sự t

.

ông Võ Văn Q

t

ngày 21/11/2016 của Cục Thi hành án dân sự t

.

4.

Ông V

5.

Cỡ chữ