vanban.org

Bản án 39/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của nguyên đơn là bà Trần Kim T đối với bị đơn là ông Cao Hoài V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 39/2017/HNGĐ-ST

Ngày: 18/08/2017

HUYỆN DẦU TIẾNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Tuấn. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu; 2. Bà Nguyễn Ngọc Hiếu. - Thư ký phiên toà: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thịnh – Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2017/TLST-HNGĐ ngày 07/4/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2017 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Trần Kim T, sinh năm 1993; HKTT: Ấp X, xã T, huyện DT, tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa. - Bị đơn: Ông Cao Hoài V, sinh năm 1983; HKTT: Ấp X, xã T, huyện DT, tỉnh B. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/4/2017, bản tự khai ngày 03/4/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn bà T trình bày: Bà T và ông V sống chung với nhau từ năm 2011, việc sống chung với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì không hạnh phúc nữa. Vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau về tất cả các vấn đề trong cuộc sống. Bà T đã cố gắng nhẫn nhịn, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không được, hiện bà T và ông V đã ly thân khoảng hơn 01 năm. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn, vì vậy bà quyết định ly hôn với ông V.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Cao Hoài B, sinh ngày 01/9/2009. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn ông Cao Hoài V đã được được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên tòa có ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay là đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hiện bị đơn cư trú tại: Ấp X, xã T, huyện DT, tỉnh B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại Khoản 1, Điều 35; Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Bị đơn là ông Cao Hoài V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh và nghĩa vụ của người bị kiện nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về nội dung tranh chấp: - Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông V chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Trong quá trình chung sống bà T cho rằng cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, không đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cãi nhau. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với ông V. Xét thấy, bà T và ông V không còn tình cảm, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hiện bà T và ông V đã sống ly thân. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc xin ly hôn của bà T là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Kim T đối với bị đơn ông Cao Hoài V theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của các đương sự, bản sao Giấy khai sinh có tại hồ sơ có đủ căn cứ xác định, quá trình chung sống vợ chồng thì bà T và ông V có 01 con chung: Cao Hoài B, sinh ngày 01/9/2009. Xét thấy hiện tại cháu B đã trên 7 tuổi, cháu B có nguyện vọng được ở với mẹ, hơn nữa hiện nay cháu B đang được sự chăm sóc, giáo dục của bà T, việc giao cháu B cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp, không gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ, bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. - Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. - Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; - Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của nguyên đơn là bà Trần Kim T đối với bị đơn là ông Cao Hoài V. - Về hôn nhân: Bà Trần Kim T được ly hôn với ông Cao Hoài V. - Về con chung: Giao cho bà Trần Kim T được quyền nuôi dưỡng con chung tên Cao Hoài B, sinh ngày 01/9/2009, ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Kim T không yêu cầu ông Cao Hoài V cấp dưỡng nuôi con. Hai bên được quyền trong nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Kim T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.00 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà T đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án

phí số 0005120 ngày 03 tháng 4 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng. 3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ