- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 389/2026/HSST Ngày 19/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Xuân
Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, địa chỉ Lô HH03 – Khu đô thị Việt Hưng, phố Mai Chí Thọ, phường Việt Hưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 389/2026/HSST ngày 03/8/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 410/2026/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị P, Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990; CCCD số 019190005866; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi thường trú: xóm S, xã Võ N, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Bá D và bà Nguyễn Thị T; Chồng: Không có; Con: 02 con lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 2016, công an quận Long Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm phạm sức khỏe người khác.
- Ngày 30/11/2021 Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 266/2021/HSST. (Đã xóa án tích).
- Ngày 04/5/2022, công an quận Long Biên xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2026 đến ngày 12/6/2026 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 08/06/2026, Nguyễn Thị P đi xe buýt từ khu vực Cầu Giấy đến khu vực gầm cầu Đông Trù, phường Việt Hưng, Hà Nội mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Tại đây, P mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ni lông ma tuý đá với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) rồi giấu vào trong túi quần đùi bên phải màu hồng để trong túi nilong mang theo người rồi quay về Cầu Giấy. Khoảng 12h ngày 09/06/2026 P đưa con đến nhà nội tại phố Đức Giang, phường Việt Hưng, Hà Nội rồi đi ra ngoài có việc. Khi đi P cầm theo túi nilong có hai chiếc quần đùi bên trong túi quần đùi màu hồng có một túi ni lông ma tuý đá. Khoảng 15 giờ cùng ngày, P thuê ông Lê Văn Hải chở về phố Đức Giang đón con, khi đi đến ngõ 94 phố Thượng Thanh, Việt Hưng, Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra, bắt quả tang thu giữ tang vật như nội dung trên.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilong kích thước 7x11cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa chứa nước tiểu của Nguyễn Thị P thu mẫu ngày 09/6/2026.
Kết luận giám định số 5714/KL-KTHS ngày 18/6/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước (7x11) cm là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng: 0,638 gam.
- Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị P thu ngày 09/6/2026 có tìm thấy ma tuý loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 196/CT-VKSNDHN1-KV ngày 27/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về quyết định và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS để tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 40 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2026.
- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng, đồng ý với lời luận tội của đại diện viện kiểm sát và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.
- Về tội danh:
Khoảng 15h ngày 09/6/2026, tại khu vực số nhà 21, ngõ 94, phố Thượng Thanh, phường Việt Hưng, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Thị P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,638 gam ma tuý loại Methaphetamine mục đích để sử dụng.
Với khối lượng ma túy thu giữ theo kết luận giám định là 0.638 gam Methamphetamine, Nguyễn Thị P đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn ham muốn của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo Nguyễn Thị P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Về nhân thân: bị cáo có 01 tiền sự về hành vi Xâm phạm sức khỏe người khác, 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản đã xóa án tích và 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản năm 2022 chưa nộp tiền phạt vì lý do hoàn cảnh khó khăn và từ năm 2022 đến nay cơ quan ra quyết định xử phạt không cưỡng chế thi hành nên bị cáo không thuộc trường hợp cố tình trốn tránh, trì hoãn nộp phạt, áp dụng Điều 7, Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính để xác định bị cáo thuộc trường hợp được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Về hình phạt chính:
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhà nước giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Biện pháp tư pháp: Đối với ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Các vấn đề khác:
Kết quả giám định nước tiểu thu ngày 09/6/2026 của Nguyễn Thị P có tìm thấy ma tuý loại Methamphetamine. P khai sử dụng ma tuý một mình trước ngày bị bắt khoảng 02 tuần. Địa P nơi P cư trú cho biết P không trong diện quản lý đối tượng liên quan đến chất ma tuý nên Cơ điều tra không có căn cứ xử lý bị can về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý. Công an phường Việt Hưng, Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với P về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý là có căn cứ.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho P tại khu vực cầu Đông Trù, phường Việt Hưng, Hà Nội do P khai không biết nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không thể xác minh làm rõ là có căn cứ.
Đối với ông Lê Văn Hải là người lái xe ôm, quá trình điều tra xác định khi chở P ông Hải không biết P tàng trữ trái phép chất ma tuý, kết quả xét nghiệm ông Hải âm tính với các chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông Hải là có căn cứ.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử, tuy nhiên đề nghị về mức hình phạt có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử đã xem xét trong quá trình nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số 99/2026/QH15 ngày 27/6/2026; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Nguyễn Thị P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Nguyễn Thị P 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2026.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy ma túy loại Methamphetamine đựng trong 01 phong bì niêm phong được dán kín các mép có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Hà, cán bộ công an phường Việt Hưng Đoàn Trung Thanh và Nguyễn Thị P.
(Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Kho vật chứng và tài liệu, đồ vật Phân trại tạm giam Việt Hưng, Trại tạm giam số 02, công an thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/7/2026)
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS nhân dân khu vực 5 Hà Nội; - VKS nhân dân thành phố Hà Nội; - Cơ quan điều tra, công an thành phố Hà Nội; - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hương |