- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hiếu và dp - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ơ Bản án số: 389/2024/HS-ST Ngày: 27/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lệ Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Minh; Bà Trần Thị Oanh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 334/2024/TLST-HS ngày 27/11 /2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2024/QĐXXST-HS ngày 09/12/2024, đối với các Bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Phú K; Sinh năm: 1993; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Thôn 2, xã Q, Thị xã B, tỉnh T; Địa chỉ nơi ở trước khi bị bắt: Số 167 H, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Sỹ L; Con bà: Trương Thị T; Gia đình Bị cáo có 02 anh em, Bị cáo là con thứ nhất; Vợ/Con: Không;
Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H; Sinh năm: 1998; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã P, huyện H, tỉnh T; Địa chỉ nơi ở trước khi bị bắt: Số 6, ngõ 92 T, phường T, quận B, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn L; Con bà: Nguyễn Thị H; Gia đình Bị cáo có 03 chị em, Bị cáo là con thứ hai; Vợ/Con: Không;
Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội.
(Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Đăng D; Sinh năm: 2003; HKTT: Thôn Yên Trung, xã H, huyện T, tỉnh T; Địa chỉ nơi ở: Số 95, T, phường T, quận B, thành phố H(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 29/5/2024, tổ công tác Công an phường P làm nhiệm vụ tại khu V, phường P, quận N, thành phố Hà Nội phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe máy BKS: 36C2-079.03 đang đứng giao nhận 01 hộp caton với 01 nam thanh niên đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy tổ công tác, nam thanh niên đi bộ vứt hộp caton cùng 01 chiếc điện thoại xuống đất rồi bỏ chạy. Tiến hành kiểm tra hộp caton phát hiện bên trong có chứa 01 túi nilon chứa thảo mộc khô nghi là ma túy. Tại chỗ, người điều khiển xe máy khai tên Nguyễn Đăng D (Sinh năm: 2003, HKTT: Thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) và khai nhận hộp caton trên qua ứng dụng giao hàng Grab Express từ một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0333168530, địa chỉ: A đường S, phường Đ, quận B, Hà Nội đến cho nam thanh niên sử dụng số điện thoại 05229811298 vừa bỏ chạy.
Tiến hành dẫn giải Nguyễn Đăng D đến địa chỉ nhận đơn hàng, rà soát xác định Nguyễn Văn H là đối tượng giao hộp caton cho anh D. H khai nhận gói hàng trước đó giao cho anh D là ma túy Tobaco mà H bán cho khách tại khu vực số B đường V, phường P, quận N, Hà Nội. Ngoài ra, H khai nhận cất giấu ma túy Tobaco tại phòng trọ ở địa chỉ: Số F ngõ I T, phường T, quận B, Hà Nội. Dẫn giải thu giữ 25 túi nilông bên trong chứa thảo mộc khô. Quá trình kiểm tra phát hiện 01 thùng xốp màu trắng bên trong chứa 16 túi nilông đều chứa thảo mộc khô. H khai 16 túi nilông đều là ma tuý Tobaco của bạn tên Nguyễn Phú K (nhà ở tại địa chỉ A H, phường Đ, quận B, Hà Nội) gửi nhờ H cất giấu. Tiếp tục dẫn giải H đến địa chỉ số A H, phường Đ, quận B, Hà Nội của Nguyễn Phú K. Qua kiểm tra, K khai nhận 16 gói nilông chứa thảo mộc khô nêu trên là ma túy Tobaco là của K gửi nhờ H để sau bán dần. Ngoài ra K tự nguyện giao nộp 25 gói nilông (kích thước 5x10cm), 03 gói nilông (kích thước 10x15cm) đều chứa thảo mộc khô là ma túy Tobaco Khánh cất giấu mục đích để bán. Tổ công tác đã tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng tạm giữ của Nguyễn Đăng D: 01 túi nilông màu trắng dạng zíp kích thước (5x10)cm, bên trong có chứa thảo mộc khô màu vàng; 01 điện thoại kiểu dáng Oppo màu trắng hồng đã qua sử dụng; Tạm giữ của Nguyễn Văn H: 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng gắn sim số 0333168530; 25 túi nilông màu trắng dạng Zíp kích thước (5x10)cm, bên trong có chứa thảo mộc khô; 16 túi nilông màu trắng kích thước (15x20)cm bên trong có chứa thảo mộc khô màu vàng; Tạm giữ của Nguyễn Phú K: 03 túi nilông màu trắng dạng Zíp kích thước (20x10)cm bên trong có chứa thảo mộc khô màu vàng; 25 túi nilông màu trắng dạng Zíp kích thước (5x10)cm bên trong có chứa thảo mộc khô màu vàng; 01 điện thoại Vsmart màu xanh đen gắn sim số 0963516321 và 02 cân điện tử màu trắng;
Tại Kết luận giám định số: 3998; 3999 và 4000/KLGĐ-PC09 ngày 07/6/2024 của phòng K1, Công an thành phố H kết luận: Đối với vật chứng phát hiện khi kiểm tra Nguyễn Đăng D: “Thảo mộc khô màu vàng bên trong 01 túi nilông màu trắng có tìm thấy ma túy loại ADB – BUTINACA dạng vết, khối lượng: 2,716 gam./”
Đối với vật chứng tạm giữ của Nguyễn Phú K: “- Thảo mộc khô màu vàng bên trong 28 túi nilông đều có ma túy loại MDMB – 4en – PINACA, tổng khối lượng: 250,068 gam.
- 02 cân điện tử màu trắng đều có dính chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA./.” Đối với vật chứng tạm giữ của Nguyễn Văn H:
“- Thảo mộc khô màu vàng bên trong 25 túi nilông kích thước (5x10)cm đều có tìm thấy ma túy loại ADB – BUTINACA dạng vết, tổng khối lượng: 65,551 gam.
- Thảo mộc khô màu vàng bên trong 16 túi nilông kích thước (5x20)cm đều đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng: 1601,573 gam./.”
Quá trình điều tra xác định: Khoảng cuối tháng 4/2024, Nguyễn Văn H thuê trọ tại A Sông N, phường Đ, quận B, Hà Nội. Do không có công việc ổn định, cần tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định mua ma túy “Tobaco” về bán để kiếm lời. Thông qua mạng xã hội, H biết tài khoản facebook “Bảo Nhi” sử dụng số điện thoại 0589651111 bán ma túy nên đã liên hệ hỏi mua. Sau đó, H sử dụng tài khoản V số 109872986950 chuyển số tiền 800.000 đồng đến tài khoản M số 0606199688888, chủ tài khoản “HOA VAN CUONG” để thanh toán tiền mua ma túy. Ngày hôm sau, H đến chân cầu vượt P, quận N, Hà Nội nhận ma túy được đựng trong 01 hộp caton thông qua xe khách và mang về phòng trọ chia thành các túi nhỏ để bán với giá 100.000 đồng. Tiếp đó, H đăng bài bán ma túy Tobaco trong các hội nhóm F kèm theo số điện thoại 0333168530 để khách liên hệ.
Quá trình bán ma túy, H quen biết Nguyễn Phú K và giới thiệu Facebook “Bảo Nhi” để Khánh tự liên hệ mua ma túy về bán kiếm lời. K kết bạn và trao đổi mua bán ma túy với “Bảo Nhi” qua tài khoản Zalo “MC” và “Luxury”. Khoảng đầu tháng 5/2024, K liên hệ đặt mua 02 kg Tobaco với giá khoảng 7.000.000 đồng, chuyển tiền vào tài khoản M. Khoảng 2 ngày sau, K nhận được thùng xốp gửi bằng đường xe khách tại cầu vượt P và mang về phòng trọ chia nhỏ ra các túi để bán. K sử dụng tài khoản Facebook “Minh Khánh” đăng bán lên các nhóm Facebook kèm theo số điện thoại 0963516321 để người mua liên hệ. Quá trình bán ma túy, khách phản hồi chất lượng không tốt nên K không bán nữa nhưng do tiếc tiền đã mua và sợ em gái ở cùng phòng trọ biết nên cho 16 túi Tobaco vào trong thùng xốp cất giấu. Đến ngày 26/5/2024, K tiếp tục đặt mua của “MC” 500 gam Tobaco với giá 4.500.000 đồng và sử dụng số tài khoản 0963516321 tại ngân hàng V1 - C2 chuyển số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản M số 0606199688888 tên “HOA VAN CUONG” (giữ lại 500.000 đồng để làm tin). Khoảng 18 giờ ngày 27/5/2024, K ra gầm cầu vượt M, P, quận N nhận từ xe khách 01 hộp giấy bên trong có 5 túi nilông. K mang về phòng trọ tại số A H, phường Đ, quận B, Hà Nội mở ra bên trong có 4 túi 100 gam và 01 túi 50 gam (K có hỏi lại “MC” nói do đang hết hàng sẽ bù sau). K chia nhỏ ra các túi (gồm 15 túi nhỏ và 03 túi lớn hơn) đăng bán trên mạng. Ngày 27/5/2024, H mua chịu của K 100 gam ma túy tobaco với giá 800.000 đồng, sau khi có tiền sẽ trả lại cho K sau. Sau đó H đến phòng trọ của K để nhận 01 túi Tobaco, đồng thời K đưa cho H 01 thùng xốp bên trong có 16 túi Tobaco nhờ H cất giấu để bán dần. Sau khi mang về phòng trọ tại số F ngõ I T, phường T, quận B, Hà Nội, H chia nhỏ số ma túy trên thành 30 túi kích thước (5x10)cm để bán với giá 100.000 đồng/túi và từ ngày 27/5/2024 H đã bán được 04 túi cho khách. Đến khoảng 13 giờ 00 ngày 29/5/2024, đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “Hung NV” đăng ký số điện thoại 0522981298 nhắn tin đến Zalo “Trung Hiếu” đăng ký số điện thoại 0333168530 của H hỏi mua 01 túi ma túy Tobaco với giá 160.000 đồng (60.000 đồng tiền công ship), hẹn giao ma túy tại số B đường V, phường P, quận N, Hà Nội. Người mua đã chuyển khoản tiền ma túy vào tài khoản V2 109872986950 tên Nguyễn Văn H. Sau khi nhận được tiền, H đặt giao ma túy qua ứng dụng Grab Express từ số A đường S, phường Đ, quận B, Hà Nội (H không đặt tại địa chỉ phòng trọ để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng) đến số B đường V, phường P, quận N, Hà Nội thì anh Nguyễn Đăng D là S nhận giao hàng. Sau đó, H lấy 01 túi ma túy Tobaco cho vào 01 hộp cattông dán kín lại rồi đưa cho anh D đi giao thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện như trên.
Đối với người mua ma túy của Nguyễn Phú K ngày 29/5/2024 sử dụng tài khoản Facebook “Trung Phạm” và tài khoản số: 991428866 tại ngân hàng M: Quá trình điều tra xác định chủ tài khoản là Phạm Thành T (Sinh năm: 1993; HKTT: phường Đ, quận H, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận khoảng 19 giờ ngày 29/5/2024, bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy TOBACO nên T đã dùng tài khoản Zalo “Trung Phạm” nhắn tin đến cho người bán (tài khoản “Minh Khánh”) hỏi mua 2 túi TOBACO và hẹn giao đến B L, phường Đ, quận H, Hà Nội. Người bán báo giá ma túy là 200.000 đồng và gửi số tài khoản số 0963516321 tại ngân hàng V1 để Trung chuyển tiền. Sau đó T sử dụng tài khoản số: 991428866 của T tại ngân hàng M chuyển tiền mua ma túy. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày T ra đầu ngõ B L và nhận 2 túi ma túy đặt mua từ một người xe ôm công nghệ. Sau khi mua được ma túy T đã sử dụng hết cho bản thân. Đối với việc sử dụng ma túy của T, chỉ có duy nhất lời khai của T về nội dung này, mặt khác qua xét nghiệm xác định trong mẫu nước tiểu của T âm tính với ma túy do vậy không đủ căn cứ để xem xét, xử lý với T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với người bán ma túy cho H và K: Xác định người bán ma túy có thông tin đăng ký tài khoản số: 0606199688888 tại ngân hàng M và số điện thoại: 0898.569.690 cùng có tên là Hoa Văn C (Sinh năm: 1996; HKTT: xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên). Quá trình điều tra xác minh Hoa Văn C hiện không có mặt tại nơi cư trú, hiện chính quyền địa phương và gia đình không nắm được C đang ở đâu, làm gì. Cơ quan điều tra, Công an quận N đã ra Quyết định số: 4952/QĐ-CQĐT ngày 25/10/2024 về việc tách hành vi, tài liệu có liên quan đến Hoa Văn C trong vụ án để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người mua ma túy của H ngày 29/5/2024: Quá trình điều tra, xác định tài khoản ngân hàng đã thực hiện giao dịch chuyển khoản số tiền 160.000 đồng đến cho H ngày 29/5/2024 là số tài khoản 0190720028888 tại ngân hàng M. Qua xác minh xác định người có thông tin đăng ký tài khoản ngân hàng này là Nghiêm Sỹ Đ (Sinh năm: 2002; HKTT: phường P, quận N, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, Đ trình bày: Đ là người đăng ký, quản lý, sử dụng tài khoản số 0190720028888 tại ngân hàng M. Ngày 29/5/2024 khi Đ đang ngồi uống nước trong làng P thì có một người thanh niên đến nói chuyện, nhờ Đ chuyển khoản hộ 160.000 đồng đến số tài khoản 109872986950 của H tại ngân hàng V2 và sau đó đưa lại cho Đ 160.000 đồng tiền mặt. Đ không biết thông tin, lai lịch của người nhờ chuyển tiền và mục đích nhờ chuyển tiền là gì. Đ khẳng định bản thân không có liên quan gì đến ma túy, ngày 29/5/2024 không liên lạc, giao dịch mua bán ma túy với ai. Tiến hành nhận dạng, Nguyễn Đăng D xác nhận Đ không phải người đã nhận hộp hàng tại số B đường V vào ngày 29/5/2024.
Đối với nam thanh niên nhận ma túy của H ngày 29/5/2024 tại số B đường V: Quá trình điều tra xác định người có thông tin đăng ký số điện thoại: 0522.981.298 (số sim của chiếc điện thoại OPPO người mua bị rơi khi bỏ chạy) là: Trần Tuấn A (Sinh ngày: 06/4/1995; Địa chỉ: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa). Cơ quan điều tra đã Ủy thác điều tra cho Cơ quan điều tra, Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa tiến hành xác minh, kết quả xác định tại địa bàn xã H, huyện H không có công dân có thông tin như trên. Cơ quan Công an đã rà soát theo hướng người mua ma túy bỏ chạy nhưng không phát hiện, ghi nhận thông tin gì có liên quan, H không biết nhân thân, lai lịch của người mua nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý.
Đối với Nguyễn Đăng D là xe ôm công nghệ hãng G, ngày 29/5/2024, D nhận hộp cattông có chứa ma túy TOBACO từ Nguyễn Văn H thông qua yêu cầu đặt giao hàng trên ứng dụng. D không biết trong hộp cattông chứa gì và khẳng định bản thân không biết, không liên quan gì đến ma túy cũng như hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H do vậy không có căn cứ để xem xét xử lý.
Ngoài hành vi nêu trên, Nguyễn Văn H còn thực hiện việc bán ma túy trong khoảng thời gian từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/5/2024 như sau:
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn H sử dụng tài khoản “Lâm Quang C1” đăng bài lên nhóm “TOBACO Hà Nội” để bán ma túy. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, Cao Minh T1 (Sinh ngày: 28/12/1997; HKTT: B T, phường T, quận H, Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook “Tiến Râuu” lên nhóm “TOBACO Hà Nội” để tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây T1 thấy tài khoản tên “Lâm Quang C1” của Nguyễn Văn H sử dụng đăng bài bán nên nhắn tin hỏi mua 200.000 đồng ma túy TOBACO và hẹn giao đến số 71 ngách A ngõ A N, quận C, Hà Nội. H đồng ý, báo giá ma túy là 270.000 đồng (gồm 200.000 đồng tiền ma túy và 70.000 đồng tiền ship) và gửi vào tài khoản số 109872986950 của Nguyễn Văn H tại ngân hàng V2 để T1 chuyển tiền. Sau đó T1 sử dụng tài khoản số: 660348624588 tại ngân hàng M chuyển khoản 270.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của H được H nhắn tin hẹn sẽ đặt ship giao ma túy đến sau. Sau khi thấy T1 đã thanh toán tiền H cho ma túy Tobaco vào 02 túi nilông (dạng túi Z) cho vào hộp carton màu vàng rồi đi bộ từ phòng trọ ra số A sông N, phường Đ, quận B, Hà Nội đặt giao hàng qua ứng dụng Grab để giao ma túy cho T1. Khoảng 16 giờ ngày 29/5/2024 có 1 tài xế công nghệ hãng G đến trước cửa số G ngách A ngõ A N đưa cho T1 01 hộp carton màu vàng đất, T1 cầm mang về mở kiểm tra bên trong có 02 túi ma túy TOBACO và đã sử dụng hết. Đối với việc sử dụng ma túy của Cao Minh T1, chỉ có duy nhất lời khai của T1 về nội dung này và qua xét nghiệm xác định trong mẫu nước tiểu của T1 âm tính với ma túy do vậy không đủ căn cứ để xem xét, xử lý với T1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi bán 02 túi ma túy Tobaco cho đối tượng Cao Minh T1 vào ngày 28 và 29/05/2024 phù hợp với nội dung lời khai của đối tượng T1. (Hiện không xác định chủng loại, khối lượng ma túy mà H bán cho T1 do đối tượng T1 đã sử dụng hết).
Tại Cáo trạng số: 322/CT-VKSNTL ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Điều luật quy định như sau: “Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;”
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của các Bị cáo, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các Bị cáo về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi các Bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các Bị cáo được sớm về với gia đình và xã hội.
Luận tội của Kiểm sát viên: Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H Kiểm sát viên kết luận giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các Bị cáo trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội và tại phiên tòa, các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo K có thành tích xuất sắc trong công tác, được Tư lệnh Cảnh sát cơ động tặng bằng khen, đề nghị Hội đồng xét xử cho các Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s (Điểm v đối với K) Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Các Bị cáo đều phạm tội 02 lần nên các Bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, nên các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điểm s, (Điểm v đối với K), Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo K từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; Mức hình phạt đối với Bị cáo H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Các Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo;
Về trách nhiệm dân sự: Không;
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ là Ma túy và 02 cân điện tử màu trắng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị/không sử dụng được, gồm có: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Đăng D, Công an và giám định viên; 01 hộp giấy được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn H, Công an và giám định viên; 01 thùng xốp được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn H, Công an và giám định viên; 01 hộp giấy được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Phú K, Công an và giám định viên;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước phương tiện phạm tội của các Bị cáo và đối tượng mua ma túy gồm có: 01 điện thoại di động Iphone Xsmax lắp sim (Tạm giữ của Nguyễn Văn H); 01 điện thoại di động Vsmart lắp sim (Tạm giữ của Nguyễn Phú K); 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO A83 lắp sim (của đối tượng mua ma túy do anh Nguyễn Đăng D giao nộp);
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của các Bị cáo: Lời khai nhận tội của Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các Bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 29/5/2024, tại khu vực V, phường P, quận N, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn H đã có hành vi bán trái phép 2,716 gam thảo mộc khô có ma túy loại ADB-BUTINACA cho một nam thanh niên không quen biết để hưởng lợi thì bị Tổ công tác Công an phường P bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài ra Nguyễn Văn H có hành vi cất giấu 65,551 gam thảo mộc khô có ma túy loại ADB-BUTINACA mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng thảo mộc khô có ma túy loại ADB-BUTINACA tạm giữ của Nguyễn Văn H là 68,267 gam mục đích để bán. Toàn bộ khối lượng ma túy này Nguyễn Văn H mua của Nguyễn Phú K vào ngày 27/5/2024; Ngoài ra Nguyễn Văn H còn thực hiện hành vi bán 02 túi ma túy Tobaco cho Cao Minh T1 ngày 29/5/2024, H hưởng lợi 200.000 đồng;
Cùng ngày 29/5/2024 khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Phú K phát hiện K có hành vi cất giấu 250,068 gam thảo mộc khô có ma túy loại MDMB-4en-PINACA mục đích để bán kiếm lời; K còn gửi nhờ tại phòng trọ của H 1601,573 gam thảo mộc khô có ma túy loại MDMB-4en-PINACA mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng thảo mộc khô có ma túy loại MDMB-4en-PINACA thu giữ của Nguyễn Phú K có mục đích để bán là 1851,641 gam, đồng thời K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 68,267 gam thảo mộc khô có ma túy loại ADB-BUTINACA tạm giữ của Nguyễn Văn H. Tổng khối lượng ma túy thảo mộc khô Nguyễn Phú K phải chịu trách nhiệm hình sự là: 1851,641 gam + 68,267 gam = 1.919,908 gam; Ngoài ra Nguyễn Phú K có hành vi bán 02 túi ma túy Tobaco cho Phạm Thành T ngày 29/5/2024 (không xác định được chủng loại, số lượng cụ thể).
Hành vi nêu trên của Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H về tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của Bị cáo K và H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà N về chế độ quản lý các chất ma túy. Các Bị cáo thực hiện hành vi: “Mua bán trái phép chất ma túy” với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng các Bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy các Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo K và H trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội và tại phiên tòa, các Bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo K có thành tích xuất sắc trong công tác, được Tư lệnh Cảnh sát cơ động tặng bằng khen, nên các Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s (Điểm v đối với Bị cáo K) Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Các Bị cáo đều phạm tội 02 lần nên các Bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của các Bị cáo là nghiêm trọng, được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại ma túy các Bị cáo mua bán, căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các Bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. [3] Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo K từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù; Bị cáo H từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, Hội đồng xét xử khi lượng hình, xét thấy Bị cáo K mua bán khối lượng ma túy nhiều hơn Bị cáo H, tuy nhiên, Bị cáo K có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn Bị cáo H, nên áp dụng mức hình phạt đối với Bị cáo K bằng mức hình phạt đối với Bị cáo H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Các Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ là Ma túy và 02 cân điện tử màu trắng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị/không sử dụng được, gồm có: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Đăng D, Công an và giám định viên; 01 hộp giấy được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn H, Công an và giám định viên; 01 thùng xốp được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn H, Công an và giám định viên; 01 hộp giấy được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Phú K, Công an và giám định viên;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước phương tiện phạm tội của các Bị cáo và đối tượng mua ma túy gồm có: 01 điện thoại di động Iphone Xsmax lắp sim (Tạm giữ của Nguyễn Văn H); 01 điện thoại di động Vsmart lắp sim (Tạm giữ của Nguyễn Phú K); 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO A83 lắp sim (của đối tượng mua ma túy do anh Nguyễn Đăng D giao nộp);
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phú K và Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điểm s, v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú K 07 (Bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2024.
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (Bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Đăng D, Công an và giám định viên; 01 hộp giấy được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn H, Công an và giám định viên; 01 thùng xốp được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn H, Công an và giám định viên; 01 hộp giấy được dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Phú K, Công an và giám định viên;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động Iphone Xsmax lắp sim; 01 điện thoại di động Vsmart lắp sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO A83 lắp sim;
(Có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng số: 64 ngày 22/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1, Khoản 4 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Về án phí: Bị cáo K, H, mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm;
Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa án
Đỗ Thị Lệ Thủy ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận :
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
Đỗ Thị Lệ Thủy
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận :
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
Đỗ Thị Lệ Thủy
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ T2
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Bị cáo; - VKSND quận Nam Từ Liêm; - VKSNDTP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an quận Nam Từ Liêm; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm; - Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Lệ Thủy |