- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Hải Y được ly hôn với ông Đặng Khắc T.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BC THÀNH PHỐ THÀNH CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 389/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14 -05 -2024 V/v tranh chấp:“Yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Phước Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Thanh Tuyền.
2. Ông Võ Hoàng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành -Thư ký Tòa án nhân dân huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
- Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BC, Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1088/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Hải Y, sinh năm 1990; địa chỉ: Khóm M, phường HP, thị xã GR, tỉnh BL; (Bà Y vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Đặng Khắc T, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp X, xã PVH, huyện BC,Thành phố Hồ Chí Minh. (ông T có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN;
- Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 12 năm 2023, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Đỗ Hải Y trình bày:
Bà và ông Đặng Khắc T kết hôn năm 2022; có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 15 tháng 4 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã PVH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Quá trình chung sống Bà và ông T có 01 con chung tên Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022, tuy nhiên sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mặc dù cả hai đã cố gắng hòa giải nhưng không thành, từ năm 2023 bà đã đem con về quê ở BL sống tuy nhiên đến tháng 11 năm 2023 ông T về BL thăm con và đã bắt bé Đ mang về nhà nuôi dưỡng và không cho bà thăm con cho đến nay.
Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông Đặng Khắc T và cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu tòa án xử cho bà được ly hôn ông T để bà ổn định cuộc sống riêng bà làm ăn nuôi con.
Về con chung: Có 01 chung tên Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022 hiện ông T đang giữ nuôi con. Nay ly hôn bà yêu cầu Tòa án xử cho bà được quyền nuôi trẻ Đ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Y không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Y xác định không có nợ ai và không cho ai vay nợ.
- Bị đơn ông Đặng Khắc T: Trong quá trình giải quyết vụ án ông T xác nhận phần trình bày về thời gian chung sống và việc đăng ký kết hôn với bà Đỗ Hải Y là đúng như bà Y đã trình bày, hiện nay do bà Y về quê nên vợ chồng đã ly thân và ông đã đem nuôi con về nuôi do ông có điều kiện nuôi con tốt hơn bà Y, về yêu cầu ly hôn ông xác nhận vợ chồng không hòa hợp nên đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 01 chung tên Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022 hiện ông T đang giữ nuôi con, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi trẻ Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022 không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông T xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông T xác định không có nợ ai và không cho ai vay nợ.
Tại phiên tòa hôm ngày 17 tháng 4 năm 2024:
- Nguyên đơn bà Đỗ Hải Y xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu được quyền nuôi trẻ Đ vì trẻ còn nhỏ và tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con và giữ nguyên các nội dung đã trình bày và yêu cầu trên.
- Bị đơn ông Đặng Khắc T xác nhận vợ chồng mâu thuẩn và đồng ý ly hôn với bà Y, Về con chung ông yêu cầu được tiếp tục nuôi trẻ Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022 vì hiện nay bà Y đang còn phải nuôi con riêng của bà Y trong khi ông chỉ có mình bé Đ là con và ông cũng không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BC,Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu đề nghị Tạm ngừng phiên Tòa để yêu cầu các bên cung cấp thêm căn cứ điều kiện nuôi con để xem xét việc giao con theo quy định pháp luật;
Tại phiên tòa hôm nay ngày 14 tháng 5 năm 2024.
Nguyên đơn bà Đỗ Hải Y, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và cũng không cung cấp thêm chứng cứ gì.
Bị đơn ông Đặng Khắc T, có mặt tại phiên tòa trình bày ông đồng ý ly hôn và ông Đỗ Khắc T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Đ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện BC phát biểu như sau: - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp cũng như tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng. Việc xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành thủ tục hòa giải đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97, Điều 205, 208, 209, 210 và Điều 211 BLTTDS năm 2015. Về việc thụ lý vụ án: Trình tự thụ lý, hiao thông báo thụ lý đúng theo quy định tại Điều 195, Điều 196 và Điều 197 BLTTDS năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 31 do Ủy ban nhân dân xã PVH, huyện BC cấp ngày 15/4/2022 có cơ sở xác định quan hệ hôn giữa bà Đỗ Hải Y và ông Đặng Khắc T là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đỗ Hải Y xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, không có sự yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Ông T nhiều lần có hành vi đánh đập, lăn mạ mà Y. Hiện bà Y đã sống ly thân với ông T. Theo Công văn số 1185/UBND ngày 24/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã PVH về việc cung cấp kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà Đỗ Hải Y và ông Đặng Khắc T như sau:“ Tại địa chỉ Ấp X, xã PVH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Đỗ Hải Y và ông Đặng Khắc T không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay...Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân xã PVH không có tiếp nhận đơn tranh chấp, mâu thuẫn hôn nhân giữa bà Đỗ Hải Y với Đặng Khắc T tại đại chỉ Ấp X, xã PVH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh”. Tuy mâu thuẫn giữa bà Đỗ Hải Y và ông Đặng Khắc T chưa được chính quyền địa phương, người thân hòa giải hoặc nhắc nhở nhưng xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà Y và ông T không đạt được. Mặt khác, ông Đặng Khắc T cũng đồng ý ly hôn với bà Y. Do đó, bà Đỗ Hải Y xin ly hôn với ông Đặng Khắc T là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Có 01 con chung tên Đ, sinh ngày 20/6/2022. Bà Đỗ Hải Y yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Bà Y không yêu cầu ông Đặng Khắc T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đặng Khắc T cũng yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con chung. Theo Công văn số 1185/UBND ngày 24/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã PVH xác định “Hiện tại trẻ Đ được ông Đặng Khắc T là ba ruột đang trực tiếp nuôi dưỡng tại địa chỉ Ấp X, xã PVH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh” Tại phiên tòa ngày 17/4/2024, ông T và bà Y đều xác định bà Y con có 01 đứa con riêng (bé trai) hiện đang sống cùng bà Y ở BL. Ông T chỉ có 01 con duy nhất là trẻ Đ. Quá trình trẻ Đ sống chung với ba ruột là ông T không phát sinh căn cứ để xác định ông T chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt cho trẻ Đ. Quá trình tòa án tạm ngừng phiên tòa để bà Y cung cấp chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi dưỡng con chung cho đến nay thì bà Y vẫn không cung cấp được chứng cứ chứng minh có điều kiện nuôi dưỡng con chung tốt hơn ông T. Mặt khác, bà Y còn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa tiếp theo. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung và đảm bảo khả năng kinh tế cũng như điều kiện nuôi dưỡng con chung cho cả bà Y và ông T thì cần thiết giao trẻ Đ cho ông T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận việc ông T không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con. Bà Y có quyền thay đổi yêu cầu nuôi con khi có căn cứ theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bởi các lẽ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Hải Y; Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Hải Y được ly hôn với ông Đặng Khắc T. Về con chung: Giao trẻ Đ, sinh ngày 20/6/2022 cho ông Đặng Khắc T trực tiếp nuôi con chung. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Đỗ Hải Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết:
- Xét nguyên đơn bà Đỗ Hải Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đặng Khắc T. Yêu cầu này được luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh từ Điều 51 đến Điều 58. Xét bị đơn ông Đặng Khắc T có địa chỉ cư trú tại số 5F/25 , ấp 5, xã PVH , huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện BC,Thành phố Hồ Chí Minh.
. Về thủ tục tố tụng:
- Xét yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Hải Y được quy định tại các Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2013. Quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 15 tháng 4 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã PVH, huyện BC,Thành phố Hồ Chí Minh cấp nên là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Xét việc nguyên đơn bà Đỗ Hải Y có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa là phù hợi theo quy định tại các Điều 227, 228, 254 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, do đó Hội đồng xét xử đủ cơ sở tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
. Về nội dung tranh chấp:
. Xét yêu cầu của bà Đỗ Hải Y về việc ly hôn với ông Đặng Khắc T là có cơ sở chấp nhận, bỡi lẽ;
- Căn cứ vào đơn khởi kiện và phần trình bày của bà Y tại bản tự khai, biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản ghi nhận việc không tiến hành hòa giải được, nhận thấy: Trong thời gian chung sống vợ chồng giữa bà Y ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không hòa giải được và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, nguyên nhân do tính tình và quan điểm sống không hợp, trong quá trình giải quyết vụ án ông T không đồng ý ly hôn nhưng tại phiên tòa ông T đồng ý ly hôn và yêu cầu tiếp tục là người trực tiếp nuôi con là trẻ Đ, sinh ngày 20/6/2022 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét sự tự nguyện thỏa thuận ly hôn giữa bà Y và ông T là phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 53, 55, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên yêu cầu ly hôn của bà Y là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về con chung: Có 01 chung tên Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022, hiện nay đang sống với ông T, xét việc nuôi con là trách nhiệm của cha và mẹ Nay ly hôn bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi con là trẻ Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022. Xét việc nuôi con là quyền và trách nhiệm của cha mẹ, tại phiên tòa ngày 17 tháng 4 năm 2024 cả bà Y và ông T điều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con là trẻ Đ, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà Y vắng mặt và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh điều kiện cho yêu cầu nuôi con và cũng không có ý và đưa ra chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 9 của BLTTDS năm 2015 nên bà Y phải chịu hậu quả cho việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ theo quy định tại Điều 6 quy định về Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 1. “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. theo quy định của pháp luật. Mặc khác tại phiên tòa ông T có mặt và yêu cầu tiếp tục là người nuôi con, Theo Công văn số 1185/UBND ngày 24/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã PVH xác định “Hiện tại trẻ Đ được ông Đặng Khắc T là ba ruột đang trực tiếp nuôi dưỡng tại địa chỉ Ấp X, xã PVH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh”, Tại phiên tòa ngày 17/4/2024, ông T và bà Y đều xác định bà Y con có 01 đứa con riêng (bé trai) hiện đang sống cùng bà Y ở quê. Ông T chỉ có 01 con duy nhất là trẻ Đ. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung nên cần thiết tiếp tục giao trẻ Đ cho ông T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, đồng thời ghi nhận việc ông T tự nguyện không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với các điều 80; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do đó yêu cầu được tiếp tục nuôi trẻ Đ của ông T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông T không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Đỗ Hải Y và ông Đặng Khắc T cùng xác nhận không có.
- Về nợ chung: Bà Đỗ Hải Y và ông Đặng Khắc T cùng xác nhận không có nợ ai và không cho ai vay nợ.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Đỗ Hải Y phải nộp án dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0020985, ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BC.
[3.4 ]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 70, Điều 72 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 254, Điều 269 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 53, 56, 57, 58, 73, 82, 83, 84 và Điều 107 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 48 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ vào Điều 26 luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử :
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Hải Y được ly hôn với ông Đặng Khắc T.
Giấy chứng nhận kết hôn số số 31, ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Ủy ban nhân dân xã PVH, huyện BC,Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2022 hiện đang sống cùng ông T để ổn định cho trẻ Tiếp tục giao trẻ Đ cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng;
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đặng Khắc T không yêu cầu bà Đỗ Hải Y cấp dưỡng nuôi con chung.
- Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con sau này.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
- Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm ly hôn: Bà Đỗ Hải Y phải nộp án dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí,lệ phí Tòa án số AA/2023/0020985, ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BC. Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Ông Đặng Khắc T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bà Đỗ Hải Y vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi Nhận: - TAND.TP Hồ Chí Minh; - VKSND H. BC; - UBND xã PVH, huyện BC , Tp HCM; - CCTHA DS H. BC; - Các đương sự; - Lưu hs. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Phước Trường THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Phước Trường |