- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 389/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09/9/2022 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tâm
2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Dũ, Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 126/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm xxxx, có mặt
Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
2. Bị đơn: Lý Thái V, sinh năm xxxx, vắng mặt
Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 2 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Chị H và anh V chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn, đến tháng 8 năm 2019 phát sinh mâu thuẫn gia đình. Nguyên nhân do anh V không quan tâm gia đình, thường xuyên ăn chơi, uống rượu, nhiều lần kêu chị H đưa tiền để ăn chơi, chị H không đưa thì anh V đánh chị H, chị H bỏ nhà đi nhưng gia đình khuyên nhủ nên chị quay về chung sống, nhưng anh V không sửa đổi mà tiếp tục đánh chị H. Đến tháng 8
1 năm 2020 chị H đưa con về nhà mẹ ruột sống cho đến nay vợ chồng không gặp nhau, nên yêu cầu ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung Lý Thái D sinh ngày 06/10/2019 đang sống với chị H. Chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung.
* Quá trình giải quyết vụ án anh Lý Thái V vắng mặt không có lời trình bày
* Ý kiến của Viện kiểm sát: Quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị căn cứ Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H. Chị H được ly hôn anh Lý Thái V. Giao con chung Lý Thái D sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh V chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị H chưa yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định. Việc thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lý Thái V được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh V.
Về hôn nhân, chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Lý Thái V tự nguyện kết hôn, được UBND xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88 ngày 20/11/2019 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình như chị H trình bày nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án triệu tập anh V nhiều lần đến Tòa để hòa giải hàn gắn tình cảm, nhưng anh V không đến, cũng không gửi cho Tòa án ý kiến của anh V về việc chị H yêu cầu ly hôn, cho thấy anh V không muốn duy trì hôn nhân. Xét tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
Về nuôi con chung: Cháu Lý Thái D dưới 03 tuổi, đã ổn định cuộc sống bên mẹ cháu là chị H, theo quy định Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị H, ghi nhận chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
2
Về tài sản chung: Hội đồng xét xử ghi nhận Chị H và anh V không yêu cầu giải quyết tài sản chung.
Án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Lý Thái V.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Lý Thái D sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lý Thái V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0007682 ngày 21/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện GCĐ; - Chi cục THADS huyện GCĐ; - UBND xã Tăng Hòa, huyện GCĐ; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Dũng 3 4 5 |