vanban.org

Bản án 388/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng X - Chủ Hộ Kinh doanh T2.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng X - Chủ Hộ Kinh doanh T2.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 388/2025/DS-ST
Ngày: 15-12-2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Trường An

Đỗ Mỹ Lil

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân, là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 364/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng X – Chủ hộ kinh doanh T. Địa chỉ liên hệ: Ấp T, xã P, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Mỹ M, sinh ngày 23/12/1999. Địa chỉ: Số B, khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau (Văn bản uỷ quyền ngày 23/8/2025). (Xin vắng)

Bị đơn:

- Ông Trần Quốc T, sinh ngày 01/01/1981. Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị T1, sinh ngày 05/9/1980. Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã S, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 8 năm 2025 của nguyên đơn thể hiện:

Năm 2024, Hộ kinh doanh T2 (Gọi tắt là H kinh doanh) có giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm với ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1. Thoả thuận H kinh doanh giao cho ông T, bà T1 các loại thức ăn nuôi tôm thẻ chân trắng, đến cuối vụ thu hoạch tôm thì ông T, bà T1 phải thanh toán cho H Kinh doanh. Trong quá trình mua bán ông T, bà T1 không thanh toán theo đúng thoả thuận. Đến ngày 30/01/2025, đối chiếu lại ông T, bà T1 còn nợ H kinh doanh số tiền 463.404.000 đồng. Do đó, ông Nguyễn Hoàng X – Chủ Hộ kinh doanh yêu cầu ông T, bà T1 thanh toán số tiền 463.404.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/02/2025 theo lãi suất 0,83%/tháng đến ngày xét xử sơ thẩm.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt. Đối với ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập đến Toà án để giải quyết vụ án theo quy định nhưng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đối với việc vắng mặt của ông Trần Quốc T và bà Nguyễn Thị T1, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1 không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1 theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn theo quy định.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo nguyên đơn, Hộ kinh doanh có giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm với ông Trần Quốc T và bà Nguyễn Thị T1. Đến ngày 30/01/2025, đối chiếu lại ông T, bà T1 còn nợ H kinh doanh số tiền 463.404.000 đồng. Về phía bị đơn, Toà án đã thông báo, triệu tập theo quy định của pháp luật để bị đơn biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông T, bà T1 đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi, không có ý kiến gì khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, nguyên đơn cũng có cung cấp hợp đồng mua bán, văn bản chốt nợ. Từ đó, có căn cứ xác định giao dịch giữa các bên được thực hiện như lời trình bày của nguyên đơn là có thật.

Do đó, ông T, bà T1 phải thanh toán cho H kinh doanh số tiền còn lại theo hợp đồng mua bán số tiền 463.404.000 đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đặt ra, Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù khi hợp đồng mua bán không thoả thuận tính lãi chậm thanh toán. Nhưng, phía bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên phải chịu lãi suất theo quy định. Phía nguyên đơn yêu cầu tiền lãi tính theo lãi suất 10%/năm tính từ ngày 01/02/2025 đến ngày 15/12/2025 là phù hợp, có căn cứ để chấp nhận. Cụ thể, từ ngày 01/02/2025 đến ngày 15/12/2025 là 10 tháng 15 ngày x 0,83%/tháng x 463.404.000 đồng = 40.386.000 đồng.

Về án phí: Ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 357, Điều 430; khoản 1 điều 440, khoản 2 điều 468 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng X - Chủ Hộ Kinh doanh T2. Buộc ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng X -Chủ Hộ Kinh doanh T2 số tiền 503.790.000 (Năm trăm lẻ ba triệu bảy trăm chín chục ngàn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí: Ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.151.600 (Hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi mốt ngàn sáu trăm) đồng. Ông Nguyễn Hoàng X – Chủ Hộ kinh doanh T2 có nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 11.770.000 (Mười một triệu bảy trăm bảy chục ngàn) đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002582 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được trả lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ