vanban.org

Bản án 387/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố các bị Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H và Phạm Thanh H phạm Tội cố ý gây thương tích.

Xử phạt bị cáo Lê Vũ Q 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Qu 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Vũ Q cùng đồng bọn phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 BLHS 1999. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứ…"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố các bị Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H và Phạm Thanh H phạm Tội cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 387/2018/HS-ST
Ngày: 28- 11 -2018
NHÂN DANH

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Chiến Thắng;

2. Ông Lê Phú Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 và 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 352/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 402/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Lê Vũ Q, sinh năm 1993 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Quản lý quán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Vũ T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1973; có 01 em ruột, sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 17/11/2017, có mặt.

2. Nguyễn Đình Qu, sinh năm 1990 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: nhà D1, khu chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Rửa xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1959 và bà Trịnh Thị T, sinh năm 1961; có 01 anh ruột, sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 17/11/2017, có mặt.

3. Nguyễn Chiến T (tên gọi khác Sửu), sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Tổ 11, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1969; có 01 anh ruột, sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 17/11/2017, có mặt.

4. Lê Hoài L, sinh năm 1994 tại tỉnh Vĩnh Long; thường trú: Ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Thành V, sinh năm 1970 và bà Võ Thị Bé C, sinh năm 1974; có 01 em ruột, sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 17/11/2017, có mặt.

5. Dương Duy A (tên gọi khác Nhí, Tý), sinh năm 1991 tại tỉnh Vĩnh Long; thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Văn Q, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; có 01 em ruột, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 17/11/2017, có mặt.

6. Trần Mạnh H, sinh năm 1998 tại tỉnh Đắk Nông; thường trú: Thôn, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn H, sinh năm 1962 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1971; có 01 chị ruột, sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 17/11/2017, có mặt.

7. Phạm Thanh H (tên gọi khác Hổ), sinh năm 1998 tại tỉnh Đắk Nông; thường trú: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn M, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1977; có 01 anh ruột, sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 17/11/2017, có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1991; thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

2. Anh Đinh Tuấn A, sinh năm 1995; thường trú: Ấp , xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Văn T, sinh năm 1980; thường trú: Phố 4, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

2. Nguyễn Tiến N, sinh năm 1963; thường trú: khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

3. Lê Anh Q, sinh năm 1979; thường trú: Phố 4, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

4. Trần Văn H, sinh năm 1964; thường trú: Thôn 14, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

5. Đặng Thị L, sinh năm 1971; thường trú: Thôn 14, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

6. Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1977; thường trú: Thôn T, xã N, huyện, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

7. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1966; thường trú: Tổ 11, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; có mặt.

8. Võ Thị Bé C, sinh năm 1974; thường trú: Ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thành T, sinh năm 1999; thường trú: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

2. Lê Trung H, sinh năm 1994; địa chỉ: Đường C, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

3. Ngô Quang Đ, sinh năm 1995; thường trú: Tổ 5, khu 2, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

4. Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1994; thường trú: Khu phố 12, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; vắng mặt.

5. Trần Văn H, sinh năm 1972; thường trú: Xóm 4, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quán New Days, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương kinh doanh các lĩnh vực: karaoke, cà phê, rửa xe. Bản thân Lê Vũ Q, Lê Hoài L, Dương Duy A, Nguyễn Đình Qu, Trần Mạnh H, Nguyễn Chiến T và Phạm Thanh H là nhân viên quán New Days. Q làm quản lý quán karaoke; L, A làm bảo vệ quán karaoke; Qu làm nhân viên rửa xe; H, T, H làm nhân viên phục vụ quán karaoke.

Vào khoảng 23 giờ ngày 16/11/2017, anh Dương Văn Đ đi cùng nhóm bạn là Đinh Tuấn Ah, Ngô Quang Đ, Nguyễn Thị Bích P và V (không rõ nhân thân, lai lịch) đến quán New Days để hát karaoke tại phòng 301. Đến khoảng 01 giờ ngày 17/11/2017, nhân viên phục vụ karaoke là anh Nguyễn Thành Tg đến phòng 301 yêu cầu nhóm khách nghỉ vì đến giờ đóng cửa quán nhưng anh Đ không đồng ý, chửi và đe dọa đánh nên anh Tg gọi bộ đàm và đi xuống khu vực quầy tiếp tân ở tầng trệt báo cho Trần Mạnh H biết. Sau đó, H đi lên phòng 301 để nói chuyện với anh Đ thì bị anh Đ dùng tay phải tát vào mặt 01 cái (không để lại thương tích) nên H đi xuống tầng trệt kể lại cho Dương Duy A, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Phạm Thanh H biết và nhờ tất cả lên dàn xếp. Lúc này, L đi ra bãi giữ xe lấy 02 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình vuông), mỗi cây dài khoảng 1,2m và đưa cho H cầm 01 cây, L cầm 01 cây; T đi vào kho lấy 01 cây chổi lau nhà (bị gẫy phần giẻ lau) bằng kim loại dài khoảng 01m; riêng H không cầm theo hung khí. Tiếp đó, H, L, T và H đi lên phòng 301 để nói chuyện với nhóm anh Đt, riêng A thì đi lên sau cầm sợi dây nịt dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao. Tại hành lang tầng 3, các anh Tuấn Ah, V, Hiếu, Đ và chị P nói chuyện giải thích việc anh Đ đánh nhân viên quán là do đã say rượu bia, đề nghị các nhóm Q thông cảm bỏ qua. Tuy nhiên trong lúc hai bên đang nói chuyện thì anh Đ lấy 01 micro từ trong phòng 301 chạy ra ném trúng vào mặt L làm chảy máu mũi. Thấy vậy, H liền cầm tuýp đập 01 nhát về phía anh Đ, nhưng đánh trúng vai anh Tuấn Ah (không để lại thương tích) do anh Tuấn Ah đứng kế bên ngăn cản. Đồng thời T, H, L và A xông vào đánh anh Đ nhưng được anh Tuấn Ah, anh H, anh V, anh Đ, chị P can ngăn nên các nhóm Q bỏ hung khí đi xuống tầng trệt, riêng T vẫn cầm theo cây cán chổi lau nhà. Sau khi nhóm Q đi xuống, anh Đ tiếp tục chửi, đập phá làm bể 08 ly thủy tinh có quai trong phòng 301 (dạng ly dùng uống bia) và lấy 01 bình chữa cháy tại hành lang tầng 3 để xịt khí CO2 ra xung quanh. Nghe tiếng anh Đ đập phá tài sản trên tầng 3, H bức xúc chạy vào bếp lấy 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm) dự định chạy lên tầng 3 đánh anh Đ thì được anh Trần Văn H là quản lý rửa xe của quán New Days can ngăn, nói H, A, T và H ra bên ngoài bãi giữ xe để chờ Công an đến giải quyết, còn L đang ở trong nhà vệ sinh tầng trệt để rửa mặt. Lúc này, Nguyễn Đình Q nghe có vụ việc xô xát nên từ ngoài bước vào sảnh tiếp tân để hỏi thì được H kể lại sự việc anh Đ quậy phá quán và đánh nhân viên đồng thời H nói Qu sang nơi rửa xe của quán lấy hung khí qua hỗ trợ, Qu đi đến khu vực rửa xe lấy 02 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tròn), mỗi cây dài khoảng 50cm cầm trên tay trái và lấy 01 cây tầm vông dài khoảng 60cm cầm trên tay phải, chạy quay lại khu vực trước cửa quán karaoke đứng cùng H, T, H và A. Lúc này, anh Tuấn Ah, anh Đ, anh H, anh Đ, anh V và chị P đi xuống tầng trệt để ra về. Tuy nhiên khi vừa đi xuống khu vực quầy tiếp tân, anh Đ chỉ mặt Qu, H, T, H, A và lớn tiếng chửi: “ĐM, tụi mày muốn sao, tao gọi người đến phá quán bây giờ!...” thì nhóm Qu cầm hung khí xông vào định đánh nhưng anh Tuấn Ah chạy đến đẩy anh Đ vào gần thang máy để ngăn cản. Cùng thời điểm này, Lê Vũ Q đang nằm ngủ tại tầng 1 của quán karaoke, nghe thấy tiếng cãi nhau ở tầng trệt nên tỉnh giấc và lấy điện thoại mở camera quan sát khu vực lễ tân. Quan sát camera thấy anh Đ đang chửi bới và chuẩn bị xô xát với các nhân viên của mình nên Q lấy 02 ly thủy tinh (loại ly có quai) rồi chạy xuống khu vực quầy lễ tân. Tại đây, nhìn thấy Qu, H, T, H, A đang cầm hung khí vây quanh anh Đ và Tuấn Ah nên Q chạy đến và dùng 01 ly thủy tinh đập liên tiếp khoảng 03 nhát trúng vào đầu anh Đ té nằm sấp xuống đất. Ngay lúc này, Qu, H, T, H và A lao vào dùng hung khí đánh liên tiếp vào đầu, người của anh Đ. Đồng thời từ trong nhà vệ sinh, L chạy ra nhìn thấy nhân viên quán đang vây đánh anh Đ nên liền chạy đến bên hông cầu thang bộ lấy 01 cây tuýp bằng kim loại dài khoảng 1,4m tiết diện hình tròn (một đầu cây tuýp được hàn nối liền với 01 con dao) rồi chạy ra cùng đồng bọn đánh anh Đ gây thương tích. Trong lúc anh Đ bị nhóm Q vây đánh, anh Tuấn Ah chỉ kịp ôm giữ tay, cản được H nhưng sau đó bị Q và Th dùng hung khí đánh gây thương tích vùng đầu và mặt.

Quá trình điều tra xác định hành vi của từng bị cáo như sau:

- Nguyễn Đình Qu: Cầm cây tầm vông dài khoảng 60cm bằng tay phải đập tất cả 03 nhát vào vùng đầu của anh Đ. Riêng 02 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tròn), mỗi cây dài khoảng 50cm thì Quân cầm trên tay trái nhưng không sử dụng để đánh.

- Nguyễn Chiến T: Cầm cây cán chổi lau nhà bằng kim loại (đã bị gãy phần giẻ lau) dài khoảng 01m bằng tay phải đập tất cả 03 cái vào anh Đ, trong đó có 02 cái trúng vào vai phải, 01 cái trúng vào đầu. Sau đó, T cầm cây chổi lau nhà đập 01 cái trúng vào người anh Tuấn Ah.

- Trần Mạnh H: H nói Qu đi lấy hung khí để đánh nhau đồng thời khi đánh nhau H cầm 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dao dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm) xông vào định chém anh Đ nhưng được anh Tuấn Ah giữ tay lại nên không chém được ai.

- Dương Duy A: Tay phải cầm sợi dây nịt màu nâu dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao đánh 01 cái vào đầu anh Đạt và dùng chân phải đá 01 cái vào đầu anh Đạt.

- Lê Hoài L: Hai tay cầm cây tuýp bằng kim loại dài khoảng 1,4m tiết diện hình tròn (một đầu cây tuýp được hàn nối liền với 01 con dao) chém tất cả 02 cái trúng vào phần hông bên phải của anh Đ.

- Phạm Thanh H: Dùng chân phải đá 02 cái vào lưng anh Đ.

- Lê Vũ Q: Sau khi ném ly thủy tinh vào đầu anh Đ, Q tiếp tục dùng ly thủy tinh đập 02 nhát vào đầu Tuấn Ah do nhìn thấy Tuấn Ah đang ôm giữ H. Sau đó, Q dùng chân phải đá 02 cái vào đầu và vai của anh Đ rồi lần lượt giật cây tầm vông của Qu, giật cây cán chổi lau nhà bằng kim loại của T để lao vào đánh anh Đ và anh V nhưng được anh H (quản lý rửa xe) can ngăn, tước bỏ cây.

Sau khi được ngăn cản, các bị cáo không đánh nữa và Công an phường Dĩ An đến hiện trường bắt quả tang.

Đối với bị hại Dương Văn Đ sau khi bị đánh, được đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương cấp cứu điều trị đến ngày 27/11/2017 thì xuất viện, đối với bị hại Đinh Tuấn Ah được đưa đến Trung tâm thị xã Dĩ An cấp cứu, khâu vết thương rồi xuất viện.

Các kết luận giám định, định giá tài sản:

Đối với thương tích của anh Dương Văn Đ:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0955/GĐPY/2017 ngày 22/11/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đồng Nai, kết luận:

Căn cứ vào Bảng 1 tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của Thông tư số 20/2014/TT – BYT ngày 12/06/2014 của Bộ trưởng Bộ y tế.

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương vỡ lún sọ đỉnh phải phẫu thuật gặm bỏ sọ lún để lại khuyết sọ kích thước 03x02cm đáy mềm (áp dụng chương 2, mục I, điều 5.2). Tỷ lệ: 26%.

- Vết thương trán phải để lại sẹo kích thước 05x0,3cm, xấu về thẩm mỹ: Tỷ lệ 06%.

- Vết thương vùng đỉnh bao gồm vết mổ để lại sẹo kích thước 10x0,3cm: Tỷ lệ 02%.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 32% (Ba mươi hai phần trăm).

2. Vật gây thương tích: Vật tày.

Ngày 27/04/2018, bị hại Dương Văn Đ có đơn đề nghị giám định lại thương tích ngày 11/04/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định trưng cầu giám định lại lần 1 tại Viện pháp y Quốc gia, phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 50/18/TgT ngày 11/05/2018 của Viện pháp y Quốc gia, phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

- Hai sẹo lớn vùng đầu.

- Hai sẹo nhỏ vùng đỉnh và thái dương phải.

- Khuyết sọ đáy phập phồng kích thước 44,7x39,4mm.

- Ổ tổn thương nhu mô não đỉnh phải kích thước khoảng 1cm3, không di chứng chức năng hệ thần kinh.

Kết luận: Căn cứ thông tư số 20/2014/TT–BYT ngày 12/06/2014 của Bộ trưởng Bộ y tế quy định tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Dương Văn Đ là: 53% (năm mươi ba phần trăm).

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích lần II số 170/18/TgT ngày 03/10/2018 của Viện pháp y Quốc gia, kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Tổn thương nhu mô não vùng đỉnh phải. Khuyết xương sọ vùng thái dương đỉnh phải. Hai sẹo mổ kích thước lớn vùng đầu.

- Hai sẹo nhỏ vùng đầu.

Kết luận: Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể dụng trong giám định pháp y, giám định Pháp y tâm thần được ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT – BYT ngày 12/06/2014, của Bộ trưởng Bộ y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân là 53%. Theo nguyên tắc cộng lùi tại thông tư.

Đối với thương tích của anh Đinh Tuấn Anh:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0969/GĐPY/2017 ngày 24/11/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Đồng Nai, phần kết luận nêu:

Căn cứ vào Bảng 1 tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của Thông tư số 20/2014/TT – BYT ngày 12/06/2014 của Bộ trưởng Bộ y tế.

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương cung mày trái để lại sẹo kích thước 02x0,3cm, xơ, xấu về thẩm mỹ: Tỷ lệ 06%.

- Vết thương đỉnh chẩm trái để lại sẹo kích thước 04x0,3cm và vết thương thái dương trái để lại sẹo kích thước 2,5x0,3cm: Tỷ lệ 03%.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 09% (chín phần trăm).

2. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc.

Đối với độ tuổi của bị cáo Trần Mạnh H:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0085/ĐT/2018 ngày 06/02/2018 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Đồng Nai, phần kết luận nêu:

Qua kết quả khảo sát về hình thể ngoài, kết quả khảo sát về xương và khảo sát về răng. Kết luận độ tuổi của Trần Mạnh H là 18 tuổi 06 tháng (+/- 06 tháng) kể từ ngày giám định 06/02/2018.

Về thiệt hại tài sản do hành vi đập phá của Dương Văn Đ:

Tại Kết luận định giá tài sản số 45/BB.ĐG ngày 28/03/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, trị giá 08 ly thủy tinh có quai (dạng ly dùng uống bia) là: 64.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tròn) dài khoảng 1,4m, 01 đầu có hàn nối 01 con dao; 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình vuông) dài khoảng 1,2m; 01 sợi dây nịt màu nâu dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao; 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm); 01 bình xịt chữa cháy; 01 micro.

Về phần dân sự: Gia đình các bị cáo Lê Vũ Q, Lê Hoài L, Dương Duy A, Nguyễn Đình Qu, Trần Mạnh H, Nguyễn Chiến T và Phạm Thanh H đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Dương Văn Đ số tiền 171.000.000 đồng và bị hại Đ không yêu cầu bồi thường thêm.

Bị hại Đinh Tuấn Ah đã nhận được 5.000.000 đồng của gia đình Nguyễn Chiến T bồi thường, số tiền còn lại bị hại yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường là 46.120.000 đồng (bao gồm các khoản: Tiền thuốc, viện phí, ngày công lao động bị mất, chi phí ăn uống, tổn thất về mặt tinh thần);

Đối với thiệt hại của quán karaoke New Day, do ông Ti là người đại diện, không yêu cầu bị hại Dương Văn Đ bồi thường lại số tiền 64.000 đồng do hành vi đập phá làm bể 08 ly thủy tinh.

Đối với 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tròn) dài khoảng 1,4m; 01 đầu có hàn nối 01 con dao. 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình vuông) dài khoảng 1,2m. 01 sợi dây nịt màu nâu dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao. 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm) các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bình xịt chữa cháy, 01 micro thu giữ trong quán Karaoke New Days, đã trả lại cho chủ sở hữu.

Ngày 10/06/2018, Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính Dương Văn Đ về các hành vi sau: Xâm hại đến sức khỏe người khác, mức phạt tiền là 2.500.000 đồng và hủy hoại tài sản, mức phạt tiền là 3.500.000 đồng.

Ngày 29/10/2018 bị hại Đinh Tuấn Ah có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Chiến T.

Tại bản cáo trạng số 355/QĐ–VKS ngày 29 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H, Phạm Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, áp dụng theo hướng có lợi cho các bị cáo nên thay đổi quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Vũ Q mức hình phạt từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù; Nguyễn Đình Qu mức hình phạt từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; Nguyễn Chiến T mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; Lê Hoài L mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; Dương Duy A mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; Trần Mạnh H mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; Phạm Thanh H mức hình phạt từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H, Phạm Thanh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Vào khoảng 01 giờ ngày 17/11/2017, tại Quán New Days có địa chỉ số 202 khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H và Phạm Thanh H có hành vi dùng cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tròn) dài khoảng 1,4m; 01 đầu có hàn nối 01 con dao; 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình vuông) dài khoảng 1,2m; 01 sợi dây nịt màu nâu dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao; 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm) để đánh gây thương tích cho 02 bị hại Dương Văn Đ và Đinh Tuấn Ah.

Hành vi của từng bị cáo thực hiện như sau:

- Nguyễn Đình Qu: Cầm cây tầm vông dài khoảng 60cm bằng tay phải đập tất cả 03 nhát vào vùng đầu của anh Đ. Riêng 02 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tròn), mỗi cây dài khoảng 50cm thì bị cáo Quân cầm trên tay trái nhưng không sử dụng để đánh.

- Nguyễn Chiến T: Cầm cây cán chổi lau nhà bằng kim loại (đã bị gãy phần giẻ lau) dài khoảng 01m bằng tay phải đập tất cả 03 cái vào anh Đ, trong đó có 02 cái trúng vào vai phải, 01 cái trúng vào đầu. Sau đó, T cầm cây chổi lau nhà đập 01 cái trúng vào người anh Tuấn Ah.

- Trần Mạnh H: H nói Nguyễn Đình Qu đi lấy hung khí, đồng thời khi đánh nhau H cầm 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dao dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm) xông vào định chém anh Đ nhưng được anh Tuấn Ah giữ tay lại và không chém được ai.

- Dương Duy A: Tay phải cầm sợi dây nịt màu nâu dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao đánh 01 cái vào đầu anh Đ và dùng chân phải đá 01 cái vào đầu anh Đ.

- Lê Hoài L: Hai tay cầm cây tuýp bằng kim loại dài khoảng 1,4m tiết diện hình tròn (một đầu cây tuýp được hàn nối liền với 01 con dao) chém tất cả 02 cái trúng vào phần hông bên phải của anh Đ.

- Phạm Thanh H: Dùng chân phải đá 02 cái vào lưng anh Đ.

- Lê Vũ Q: Sau khi ném ly thủy tinh vào đầu anh Đ, Q tiếp tục dùng ly thủy tinh đập 02 nhát vào đầu Tuấn Ah do nhìn thấy Tuấn Ah đang ôm giữ H. Sau đó, Q dùng chân phải đá 02 cái vào đầu và vai của anh Đ rồi lần lượt giật cây tầm vông của Qu, giật cây cán chổi lau nhà bằng kim loại của T để lao vào đánh anh Đ và anh V nhưng được anh H (quản lý rửa xe) can ngăn, tước bỏ cây.

Đối với thương tích của anh Dương Văn Đ:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0955/GĐPY/2017 ngày 22/11/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đồng Nai, kết luận (lần thứ I): Tỷ lệ tổn thương cơ thể (áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 32% (Ba mươi hai phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 50/18/TgT ngày 11/05/2018 của Viện pháp y Quốc gia, phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 53% (năm mươi ba phần trăm).

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích lần II số 170/18/TgT ngày 03/10/2018 của Viện pháp y Quốc gia, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân là 53% (năm mươi ba phần trăm).

Tại công văn phúc đáp số 31/PVPYQG-KGQngày 31/5/2018 của Viện pháp y Quốc gia- phân viện thành phố Hồ Chí Minh: Xác định tại thời điểm giám định, có thương tổn không thay đổi, có thương tổn nặng lên, có thương tổn phục hồi tốt hơn. Do đó, tỷ lệ thương tổn cơ thể tại mỗi thời điểm giám định khác nhau có thể tỷ lệ khác nhau.

Như vậy áp dụng theo hướng có lợi cho các bị cáo cần áp dụng bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0955/GĐPY/2017 ngày 22/11/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đồng Nai, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 32% (Ba mươi hai phần trăm).

Tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy

định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. …”

Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H, Phạm Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành Tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại bản cáo trạng số 355/QĐ–VKS ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và việc thay đổi quyết định truy tố, luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H, Phạm Thanh H là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tác động gia đình đã bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; sự việc xảy ra có một phần lỗi của người bị hại. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Dương Duy A là quân nhân xuất ngũ và bị cáo Nguyễn Chiến T bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại Đinh Tuấn Ah. Nên khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo Nguyễn Chiến T, Phạm Thanh H và Trần Mạnh H đang còn đi học nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo là người lao động có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Tuấn Ah đã nhận được 5.000.000 đồng tiền của gia đình Nguyễn Chiến T bồi thường, số tiền còn lại Tuấn Ah yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường tổng số tiền là 46.120.000 đồng (bao gồm các khoản: Tiền thuốc, viện phí, ngày công lao động bị mất, chi phí ăn uống, tổn thất về mặt tinh thần) nên có cơ sở buộc Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H và Phạm Thanh H phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại.

Đối với bị hại Dương Văn Đ đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại là 171.000.000 đồng. Bị hại Đ không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tòn) dài khoảng 1,4m; 01 đầu có hàn nối 01 con dao. 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình vuông) dài khoảng 1,2m; 01 sợi dây nịt màu nâu dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao; 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm) các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bình xịt chữa cháy, 01 micro thu giữ trong quán Karaoke New Days, đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố các bị Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H và Phạm Thanh H phạm Tội cố ý gây thương tích.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Xử phạt bị cáo Lê Vũ Q 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Qu 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017.

4. Xử phạt bị cáo Lê Hoài L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017.

5. Xử phạt bị cáo Dương Duy A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017.

6. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017.

7. Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2017.

II. Áp dụng khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 285, Điều 590 và Điều 593 Bộ Luật Dân Sự: Buộc các bị cáo Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H và Phạm Thanh H liên đới bồi thường cho bị hại Đinh Tuấn Ah tổng số tiền là 46.120.000 đồng (bao gồm các khoản: Tiền thuốc, viện phí, ngày công lao động bị mất, chi phí ăn uống, tổn thất về mặt tinh thần).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

III. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình tòn) dài khoảng 1,4m; 01 đầu có hàn nối 01 con dao. 01 cây tuýp bằng kim loại (tiết diện hình vuông) dài khoảng 1,2m. 01 sợi dây nịt màu nâu dài khoảng 01m, mặt dây nịt bằng kim loại màu bạc có in hình ngôi sao. 02 con dao (01 con dài khoảng 31cm, bản rộng khoảng 6,5cm; 01 con dài khoảng 34cm, bản rộng khoảng 7,5cm).

IV. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lê Vũ Q, Nguyễn Đình Qu, Nguyễn Chiến T, Lê Hoài L, Dương Duy A, Trần Mạnh H, Phạm Thanh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 329.400 (ba trăm hai mươi chín ngàn bốn trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

V. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ