- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Q & M"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Mộng Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 386/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06/9/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Gắn
2. Bà Võ Thị Lệ
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 275/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 428/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 302/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngô Thị Mộng Q, sinh năm xxxx (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: Nguyễn Văn Bé M, sinh năm: xxxx (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp R, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Ngô Thị Mộng Q trình bày:
Chị Q và anh M do mai mối, có tìm hiểu, tự nguyện tổ chức đám cưới, có đăng kí kết hôn. Sau khi cưới anh chị chung sống với gia đình chồng đến tháng 4 năm 2023 thì chị về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cải vã, giữa anh chị không có tiếng nói chung, anh M thường xuyên nghi ngờ chị Q đi chơi với người đàn ông khác trong thời gian đi làm, mặc dù chị Q hết sức giải thích nhưng anh M vẫn không tin tưởng chị Q, hơn nữa anh M thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà là kiếm chuyện chửi bới. Chị Q không thể tiếp tục cuộc sống chung nên về nhà mẹ ruột sinh sống từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, anh M có xuống nhà nói chuyện với chị Q được vài câu rồi lại cải vã, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Q yêu cầu được ly hôn với anh M.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện đang sống chung với anh M. Ly hôn, chị Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Q không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung không có.
* Anh Nguyễn Văn Bé M là bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, anh M cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh M đối với yêu cầu ly hôn của chị Q cho Tòa án nên không có lời trình bày của anh M.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Mộng Q, cho chị Ngô Thị Mộng Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn Bé M. Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K sinh ngày xx/x/xxxx cho chị Ngô Thị Mộng Q được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn Bé M không cấp dưỡng nuôi con do chị Ngô Thị Mộng Q không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Ngô Thị Mộng Q yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn Bé M, sinh năm 1986, ngụ tại ấp Ruộng Cạn, xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Bé M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh Nguyễn Văn Bé M vẫn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của anh Nguyễn Văn Bé M đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn Bé M.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Mộng Q và anh Nguyễn Văn Bé M có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị Q, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cải vã, giữa anh chị không có tiếng nói chung, anh M thường xuyên nghi ngờ chị Q đi chơi với người đàn ông khác trong thời gian đi làm, mặc dù chị Q hết sức giải thích nhưng anh M vẫn không tin tưởng chị Q, hơn nữa anh M thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà là kiếm chuyện chửi bới. Chị Q không thể tiếp tục cuộc sống chung nên về nhà mẹ ruột sinh sống từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, anh M có xuống nhà nói chuyện với chị Q được vài câu rồi lại cải vã, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Q yêu cầu được ly hôn với anh M. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho anh M biết nội dung yêu cầu ly hôn của chị Q, tuy nhiên anh M vẫn không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Q, để mặc cho chị với yêu cầu ly hôn mà vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, anh M không quan tâm đến kết quả giải quyết đối với quan hệ hôn nhân của anh và chị Q. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q với anh M là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh chị chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện đang sống chung với anh M. Ly hôn, chị Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Q không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Do anh M vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không trình bày ý kiến của anh M đối với con chung nên cần giao con chung tên Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 08/7/2019 cho chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở được chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Do chị Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Ngô Thị Mộng Q có yêu cầu ly hôn nên chị Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Mộng Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Mộng Q và anh Nguyễn Văn Bé M được ly hôn.
2. Về con chung: Giao 01 con tên Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 08/7/2019 cho chị Ngô Thị Mộng Q được trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn Bé M không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Ngô Thị Mộng Q không có yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn Bé M được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Ngô Thị Mộng Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028894 ngày 19/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Ngô Thị Mộng Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Mộng Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án và anh Nguyễn Văn Bé M được quyền kháng cáo bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.GCĐ; - CC.THADS H.GCĐ; - UBND xã Kiểng Phước, H.GCĐ; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diễm Trinh |