- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 385/2024/HS-ST Ngày: 25/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Thân;
Ông Nguyễn Tiến Chuyển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 346/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2024/QĐXXST-HS ngày 12/12/2024:
1. Họ tên: Nguyễn Khắc Q - Sinh năm 2003;
Giới tính: Nam;
Nơi thường trú: khu phố L, phường H, TX T, tỉnh B.
Quốc tịch: Việt Nam -
Dân tộc: Kinh -
Tôn giáo: Không
Văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: Sinh viên đại học Công nghệ giao thông vận tải
Họ tên bố: Nguyễn Khắc T - Sinh năm: 1980
Họ tên mẹ: Vương Thị H
- Sinh năm: 1983
Gia đình có hai anh em, bị cáo là con cả
Cùng trú tại: khu phố L, phường H, T, tỉnh B.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 30/9/2024. Tạm giữ từ ngày 01/10/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố Hà Nội;
2. Họ tên: Trần Văn T1- Sinh năm 2003
Giới tính: Nam;
Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, TX T, tỉnh B
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không
Văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ tên bố: Trần Văn V -
Sinh năm: 1966
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S
- Sinh năm: 1969
Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 30/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố Hà Nội;
3. Họ tên: Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 2003
Giới tính: Nam;
Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, TX T, tỉnh B
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh -
Tôn giáo: Không
Văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: Sinh viên TT đào tạo CNTT quốc tế B2 - ap
Họ tên bố: Nguyễn Văn T2 - Sinh năm: 1975
Họ tên mẹ: Trần Thị V1
- Sinh năm: 1976
Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 30/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố Hà Nội;
4. Họ tên: Nguyễn Bảo L- Sinh năm 2003
Giới tính: Nam;
Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, TX T, tỉnh B
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không
Văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: Sinh viên trường Đại học G
Họ tên bố: Nguyễn Ngọc Đ1 -
Sinh năm: 1975
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M - Sinh năm: 1972
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 30/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố Hà Nội;
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt:
+ Anh Lê Văn T3, sinh năm 1987. Nơi thường trú: V, phường V, TP B, tỉnh B.
+ Chị Vương Thị H, sinh năm 1983. Nơi thường trú: Khu phố L, phường H, TX T, tỉnh B
+ Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1997. Nơi thường trú: Chung cư B, ngõ B, X, T, tp.H.
+ Ông Trần Văn V, sinh năm 1966. Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, TX T, tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 00 phút ngày 30/9/2024, tại vực ngõ D, H, phường M, N, tp.H, tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy phát hiện Trần Văn T1 điều khiển xe máy hiệu HonDa Dream gắn BKS: 99F1-06931 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi đeo của T1 có 02 hộp giấy bìa các tông (01 hộp đề chữ bên ngoài “Hàm Nghi”) bên trong mỗi hộp có 01 túi nilong chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, Trần Văn T1 khai nhận thảo mộc khô bên trong các hộp giấy bìa các tông là ma túy loại Tobaco mang đi giao cho khách mua. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, tạm giữ niêm phong tang vật và đưa đối tượng về trụ sở làm rõ (BL 110,111).
Cơ quan điều tra thu giữ của Trần Văn T1: 01 hộp giấy bìa các tông (đề chữ H) bên trong có 01 túi nilong chứa thảo mộc khô; 01 hộp giấy bìa các tông bên trong có 01 túi nilong chứa thảo mộc khô; 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream gắn BKS: 99F1-06931; 01 điện thoại di động hiệu Google Pixel 6a gắn sim số 0388765xxx; 01 túi đeo (BL 113, 173).
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T1 khai nhận: số ma túy bị thu giữ là của Nguyễn Khắc Q (đưa cho để mang đi giao cho khách mua). Dẫn giải Thật đến trước số nhà H hẻm E đường P, phường M phát hiện Nguyễn Văn Đ (Sinh năm: 2003; Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh B), có hành vi tàng trữ ma túy để bán, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn Đ: 01 hộp giấy bìa các tông bên trong có 03 túi nilong (dạng túi zip) màu trắng chứa thảo mộc khô; 01 xe máy kiểu dáng Honda Airblade màu sơn đen vàng BKS: 99F1- 666.xx; số máy: 02038xx; số khung: 225693; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max vỏ màu vàng bên trong lắp 01 sim (BL 115, 230).
Tại chỗ Nguyễn Văn Đ khai thảo mộc khô là ma tuý Tobaco của 01 nam thanh niên tên Nguyễn Khắc Q giao cho Đ cất giấu để bán. Dẫn giải Đ đến phòng 702 số nhà H hẻm E đường P phát hiện trong phòng có Nguyễn Khắc Q (Sinh năm: 2003; Nơi thường trú: Khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh B), Cao Thị H1 (Sinh năm: 2003; Nơi thường trú: Xóm H, xã M, thị xã T, tỉnh B) và Nguyễn Công C (Sinh năm: 2003; Nơi thường trú: Xóm H, xã M, thị xã T, tỉnh B). Tại chỗ Nguyễn Khắc Q tự nguyện giao nộp 01 thùng giấy bìa các tông bên trong có 01 túi nilong màu đen chứa thảo mộc khô. Q khai thảo mộc khô là ma tuý Tobaco cất giấu để bán và thừa nhận việc giao ma tuý cho T1, Đ mang bán (BL 110,111).
Dẫn giải Nguyễn Khắc Q về nơi thuê trọ tại phòng 501 số nhà A, ngách A, ngõ B đường Đ, phường T phát hiện trong phòng có Nguyễn Bảo L (Sinh năm: 2003; Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh B); kiểm tra phát hiện thu giữ trong phòng có: 02 túi nilong màu trắng chứa thảo mộc khô, 01 túi nilong màu đen chứa thảo mộc khô và 01 cân điện tử (BL 135,136).
* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Khắc Q:
- 01 thùng giấy bìa các tông bên trong có 01 túi nilong màu đen chứa thảo mộc khô (thu tại phòng 702 số nhà H hẻm E đường P).
- 02 túi nilong màu trắng chứa thảo mộc khô, 01 túi nilong màu đen chứa thảo mộc khô và 01 cân điện tử (thu tại phòng E số nhà A, ngách A, ngõ B đường Đ).
- 01 xe máy kiểu dáng Honda Vision màu sơn đen BKS: 99F1-666.xx; số máy: 81271xx; số khung: 002974.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Pro max vỏ màu xám bên trong lắp 01 sim, (BL 117, 200).
* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Bảo L:
- 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu sơn xanh đen bạc BKS: 99G1-096.xx; số máy: 31874xx; số khung: 387746.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 vỏ màu trắng bên trong lắp 01 sim (BL 257).
Tổ công tác tiến hành lập biên bản kiểm tra, niêm phong tang vật và dẫn giải các đối tượng về trụ sở làm rõ.
Quá trình điều tra xác định:
Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và Nguyễn Văn Đ là bạn cùng quê tại phường H, thị xã T, tỉnh B (riêng L và Đ có quan hệ họ hàng). Cả 04 người hiện cùng góp tiền thuê trọ tại phòng 502 số nhà A, ngách A, ngõ B đường Đ, phường T, N, tp.H để ở. Thời điểm đầu tháng 8/2024 lúc này Q vẫn đang thuê trọ ở riêng tại xã T, huyện T và bán Pod thuốc lá điện tử, thuốc kích dục và thuê L, T1, Đ đi ship hàng cho Q.
Đến khoảng cuối tháng 8/2024 Q vào mạng xã hội Facebook thấy có nhiều người hỏi mua ma tuý Tobaco nên nảy sinh ý định mua về bán kiếm lợi, đồng thời Q chuyển đến thuê trọ cùng L, T1, Đ tại phòng 502 số nhà A, ngách A, ngõ B đường Đ, phường T, quận N, tp.H, để tiện việc đi lại thực tập. Sau khi đến ở khoảng 1 tuần, Q sử dụng tài khoản facebook của mình là “Minh V” truy cập vào các hội nhóm về ma túy Tobaco trên mạng xã hội để tìm hiểu và mua về bán kiếm lời. Q truy cập vào nhóm Facebook "T - Hoả tốc Hà Nội 24/7 - uy tín" và nhắn tin với một tài khoản Facebook (Q không nhớ tên là gì) hỏi mua ma túy Tobaco, người bán sẽ gửi ma túy qua xe khách đến khu vực đối diện công viên bãi xe ngầm M, phường M (tiền mua ma tuý thanh toán tiền mặt trực tiếp cho nhà xe). Sau khi mua được ma tuý, Q mang về phòng trọ cất giấu trong tủ để bán. Q nói chuyện với L, T1, Đ việc bán ma tuý T4 và bảo mọi người đi giao bán cho khách để hưởng tiền công ship thì mọi người đều đồng ý. Q sử dụng tài khoản Facebook "Minh V" đăng tin bán Tobaco trên các hội nhóm Facebook; khi có khách mua thì Q nhắn thông tin qua Z bảo L, T1, Đ lấy ma tuý do Q đóng gói sẵn trong hộp giấy bìa các tông hoặc bảo L, T1, Đ tự đóng gói ma tuý của Q cất trong tủ rồi mang bán; khách mua sẽ chuyển tiền đến tài khoản số 8389xx tại ngân hàng M của Q. Sau khi bán ma tuý thì Q sẽ thanh toán tiền công ship cho L, T1, Đ bằng hình thức chuyển khoản hoặc tiền mặt. Đồng thời Q cũng mua thêm 2kg sợi thuốc lào mục đích trộn với ma tuý Tobaco để bán được số lượng nhiều hơn.
Đến khoảng ngày 28/9/2024, Q truy cập vào nhóm Facebook "T - Hoả tốc H
- uy tín" mua 1 kg ma tuý Tobaco giá 7.800.000 đồng của người không quen biết và nhận ma tuý được giao theo xe khách đến khu vực đối diện công viên bãi xe ngầm M, phường M (tiền mua ma tuý thanh toán tiền mặt trực tiếp cho nhà xe). Số ma tuý mua được Q mang về cất giấu tại phòng trọ của bạn gái là Cao Thị H1 tại phòng 702 số nhà H hẻm E đường P, phường M mục đích để bán (BL 209, 210).
Từ tháng 8/2024 đến nay, Q, Đ, L, T1 đã thực hiện nhiều giao dịch mua bán ma túy, tuy nhiên do không nhớ được thông tin cụ thể người mua. Quá trình điều tra xác định được các bị cáo đã thực hiện 03 vụ mua bán ma túy trong thời gian gần đây, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Sáng ngày 27/9/2024 Đinh Văn K (SN:1998 – HKTT: thôn D, xã P, huyện N, tỉnh N) sử dụng tài khoản Facebook "San J" liên lạc với tài khoản Facebook "Minh V" của Q đặt mua 01 túi ma tuý Tobaco giá 100.000 đồng hẹn giao đến khu vực T, M, TP.H, Q đồng ý bán và yêu cầu thêm 150.000 đồng tiền ship. Sau đó Q nhắn tin cho Đ mang ma tuý đi bán. Đại đóng gói ma túy rồi điều khiển xe máy Honda Airblade BKS: 99F1-666.xx mang theo ma túy đến trước số nhà B ngõ A đường Q, thị trấn Q bán cho K 01 túi ma tuý Tobaco và thu 250.000 đồng tiền mặt; Đ trả Q 100.000 đồng tiền ma tuý và hưởng lợi 150.000 đồng tiền công ship.
- Lần thứ hai: Khoảng 08h30 ngày 30/9/2024, có khách đặt mua của Q 500.000 đồng ma túy Tobaco và hẹn ship đến ngõ D đường H, phường M, quận N, tp.H. Sau đó, người mua đã chuyển khoản cho Q 560.000 đồng (60.000 đồng tiền công ship) vào tài khoản ngân hàng M2, số tài khoản 838929 của Q. Sau đó, Q nhắn tin cho L bảo L đóng gói 13 gam ma túy Tobaco (đã để sẵn trong phòng trọ) rồi mang đến cho khách kèm địa chỉ và số điện thoại 0923805xxx của người mua. L lấy ma túy Tobaco ở trong 01 túi bóng đen cho vào 01 túi nilong theo hướng dẫn của Q rồi để vào trong balo. Đến khoảng hơn 9h cùng ngày, L điều khiển xe máy Honda Wave gắn BKS: 99G1-09623 đến ngõ D H giao thành công cho 01 nam thanh niên không rõ lai lịch. Tiền công ship 60.000 đồng của L thì Q chưa thanh toán.
- Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ ngày 30/9/2024, có khách nhắn tin cho Q hỏi mua 500.000 đồng ma túy T4 và hẹn ship ma túy đến ngõ D đường H cho người dùng số điện thoại 0923805xxx, Q đồng ý bán, yêu cầu thêm 60.000 đồng tiền ship. Người mua đã sử dụng tài khoản số 4797666xxx tại ngân hàng T chuyển 560.000 đồng đến tài khoản số 8389xx tại ngân hàng M1 của Q. Sau đó Q nhắn tin Z bảo T1 đóng gói 17 gam ma túy Tobaco để giao cho khách. Thật đã lấy ma tuý được Q để trong tủ đóng thành 02 túi cho vào 02 hộp giấy bìa các tông (1 hộp ghi chữ "HÀM NGHI" để giao cho khách dùng số điện thoại 0923805xxx; còn 01 hộp đợi khi có khách hỏi mua thì bán). Sau đó T1 điều khiển xe máy Honda Dream BKS: 99F1-069.xx đến ngõ D H. Khi T1 đang đợi giao ma tuý cho khách thì bị Đội CSĐTTP về ma tuý kiểm tra phát hiện bắt quả tang như nêu trên. Tiền công ship 60.000 đồng của T1 thì Q chưa thanh toán (BL 209 – BL 227).* Bản kết luận giám định số 7124/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng PC09 - CATP H kết luận:
- Tang vật thu giữ của Trần Văn T1 gồm:
+ Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong (trong 01 hộp giấy bìa các tông, ký hiệu M1) có ma túy loại ADB-BUTINACA và ma tuý loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 17,45 gam.
+ Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong (trong 01 hộp giấy bìa các tông, ký hiệu M2) có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 16,93 gam.
- Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn Đ gồm: Thảo mộc khô bên trong 03 túi nilong (ký hiệu M3) có ma túy loại ADB-BUTINACA và ma tuý loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 17,87 gam.
- Tang vật thu giữ của Nguyễn Khắc Q tại Phòng 702 số nhà H hẻm E đường P, phường M gồm: Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong màu đen (ký hiệu M4) có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 1026,43 gam.
- Tang vật thu giữ của Nguyễn Khắc Q tại Phòng 502 số nhà A, ngách A, ngõ B đường Đ, phường T gồm:
+ Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong màu trắng và 01 túi nilong màu đen (ký hiệu M5) đều không tìm thấy chất ma tuý, tổng khối lượng: 289,35 gam.
+ Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong màu trắng (ký hiệu M6) không tìm thấy chất ma tuý, khối lượng: 1612,56 gam.
+ 01 cân điện tử (ký hiệu M5) có dính ma tuý loại MDMB-4en-PINACA (BL 132, 133).
Quá trình điều tra, Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và Nguyễn Văn Đ đều khai nhận đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên do các bị cáo không nhớ thông tin cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ).
* Về nguồn gốc ma tuý: Nguyễn Khắc Q khai mua của đối tượng không rõ lai lịch quen qua nhóm Facebook "T - Hoả tốc Hà Nội 24/7 - uy tín" và nhận ma tuý được giao qua xe khách tại khu vực đối diện công viên bãi xe ngầm M, phường M và thanh toán tiền mặt cho nhà xe. Cơ quan điều tra đã dẫn giải Q chỉ vị trí nhận ma tuý, rà soát không phát hiện thông tin liên quan. Quá trình điều tra không xác định được người bán ma túy do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ nguồn gốc ma tuý (BL 212- BL227.
* Về đối tượng mua ma tuý ngày 30/9/2024: Q khai nam thanh niên mua ma tuý sử dụng tài khoản Messenger (không nhớ thông tin) và số điện thoại 0923805xxx để liên lạc; sử dụng tài khoản số 19033974994xxx và 4797666xxx tại ngân hàng T để chuyển tiền mua ma tuý. Cơ quan Công an đã tiến hành rà soát tại khu vực ngõ D H, phường M không phát hiện thông tin đối tượng liên quan (BL 220, 221).
Đối với số điện thoại 0923805xxx, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là Lê Ngọc Minh C1 (Sinh ngày: 14/4/2008; Nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường N, thị xã N, tỉnh K). C1 khai hiện đang học và ở nội trú tại trường THPT V3 (địa chỉ phường A, quận G, TP.M); C1 không đăng ký sử dụng, không biết ai đang sử dụng số điện thoại 0923805xxx. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý (BL 413, 414).
Đối với tài khoản ngân hàng số 19033974994xxx tại ngân hàng T6, quá trình điề tra xác định chủ tài khoản là chị Chu Thị H2 (Sinh năm: 1984; Nơi thường trú: Tổ E P, phường M, quận N, TP.H). Chị H2 khai hiện kinh doanh cửa hàng tạp hoá, dịch vụ chuyển tiền nhanh tại nhà và có sử dụng tài khoản ngân hàng trên. Ngày 30/9/2024 có khách đưa tiền mặt nhờ chuyển 560.000 đồng đến tài khoản số 8389xx tại ngân hàng M1; chị H2 không rõ lai lịch người gửi và người nhận, không rõ mục đích chuyển tiền; không sử dụng, không biết ai đang sử dụng số điện thoại 0923805xxx. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý (BL 417).
Đối với tài khoản ngân hàng số 4797666xxx tại ngân hàng T6, quá trình điều tra xác định chủ tài khoản là anh Nguyễn Sinh C2 (Sinh năm: 1993; Nơi thường trú: TDP số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh B). Anh Công khai ngày 30/9/2024 khi đang ngồi uống nước ngoài đường (không nhớ địa chỉ) thì có người đưa 560.000 đồng tiền mặt nhờ chuyển đến tài khoản số 8389xx tại ngân hàng M1, anh C2 không rõ lai lịch người gửi và người nhận, không rõ mục đích chuyển tiền. Anh C2 không sử dụng, không biết ai đang sử dụng số điện thoại 0923805xxx. Tiến hành cho nhận dạng Nguyễn Bảo L xác định anh C2 không phải người mua ma tuý. Do các bị cáo không rõ lai lịch đối tượng mua ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ (BL 418)
* Đối với Đinh Văn K có hành vi mua ma tuý của Q và Đ ngày 27/9/2024, K khai đã sử dụng hết số ma tuý mua được. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với K về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý (BL 304, 305).
* Đối với Cao Thị H1 quá trình điều tra xác định H1 không biết, không tham gia mua bán trái phép ma tuý cùng các đối tượng nên Cơ qan điều tra không xem xét xử lý (BL 288, 289).
* Đối với Nguyễn Công C, quá trình điều tra xác định C không biết, không tham gia mua bán trái phép ma tuý cùng các đối tượng nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý (BL 281- BL284).
* Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu sơn xanh đen bạc BKS: 99G1-096.23; số máy: 3187417; số khung: 387746, quá trình điều tra xác định xe đăng ký chủ sở hữu là anh Lê Văn T3 (Sinh năm: 1987; Nơi thường trú: V, phường V, TP B), tra cứu tại Phòng PC02, C3 xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Anh T3 khai; Năm 2012 anh T3 mua mới chiếc xe trên và đăng ký xe chính chủ, sau khi sử dụng một thời gian thì bán lại cho cửa hàng xe máy không nhớ địa chỉ. Năm 2020 anh trai ruột Nguyễn Bảo L là Nguyễn Minh H3 (Sinh năm: 1998; Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh B) mua lại chiếc xe với giá khoảng 10.000.000 đồng, tiền mua xe của anh H3 tự lao động có, do bận đi làm ở Hà Nội nên anh H3 cho L mượn xe, việc L sử dụng xe đi bán ma tuý anh H3 không biết. Hiện đang tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật (BL 443).
* Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda Vision màu sơn đen BKS: 99F1-666.28; số máy: 8127162; số khung: 002974, quá trình điều tra xác định xe đăng ký chủ sở hữu là Nguyễn Khắc Q; tra cứu tại Phòng PC02, C3 xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Năm 2023 mẹ đẻ Q là chị Vương Thị H (Sinh năm: 1983; Nơi thường trú: Khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh B) mua mới chiếc xe trên giá khoảng 35.000.000 đồng, tiền mua xe của chị H tự lao động có; do không thông thạo thủ tục đăng ký xe và cũng xác định sẽ cho Q mượn xe sử dụng đi học nên để Q đứng tên đăng ký xe; việc Q sử dụng xe đi bán ma tuý chị H không biết. Hiện đang tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật (BL 440).
* Đối với xe máy kiểu dáng Honda Airblade màu sơn đen vàng BKS: 99F1-666.56; số máy: 0203883; số khung: 225693, quá trình điều tra xác định đăng ký chủ sở hữu xe là Nguyễn Văn Đ, tra cứu tại Phòng PC02, C3 xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Năm 2023 chị ruột Đ là Nguyễn Thị L1 (Sinh năm: 1997; Nơi thường trú: chung cư B, X, T, TP.H) mua mới chiếc xe trên giá khoảng 50.000.000 đồng, tiền mua xe của chị L1 tự lao động có, do không thông thạo thủ tục đăng ký xe nên nhờ Đ đứng tên đăng ký xe. Sau đó chị L1 cho Đ mượn xe để đi học, việc Đ sử dụng xe đi bán ma tuý chị L1 không biết. Hiện đang tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật (BL 439).
* Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream màu sơn nâu BKS: 99F1-069.xx; số máy: 14782xx; số khung: 178384, quá trình điều tra xác định đăng ký chủ sở hữu xe là ông Trần Văn V (Sinh năm: 1966; Nơi thường trú: Khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh B), bố đẻ bị cáo Trần Văn T1, tra cứu tại Phòng PC02, C3 xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Năm 2012 anh V mua mới chiếc xe trên giá khoảng 15.000.000 đồng và đăng ký xe chính chủ, tiền mua xe của anh V tự lao động có. Hiện nay anh V cho T1 mượn xe sử dụng, việc T1 sử dụng xe đi bán ma tuý anh V không biết. Hiện đang tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật (BL 441).
Tại cơ quan điều tra các bị các khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản kiểm tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 354/CT-VKS ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm các bị cáo Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và Nguyễn Văn Đ bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận các bị cáo Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, t, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 54 (áp dụng với bị cáo Đ) Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L, mỗi bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù.
Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
+ Tịch thu tiêu hủy: 03 thùng giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Nguyễn Khắc Q, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận N; 02 hộp giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Trần Văn T1, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận N; 01 hộp giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Nguyễn Văn Đ, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận N; 01 túi đeo.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Google Pixel 6a vỏ màu xanh bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Pro max vỏ màu xám bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max vỏ màu vàng bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 vỏ màu trắng bên trong lắp 01 sim.
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu sơn xanh đen bạc BKS: 99G1-096.xx; số máy: 31874xx; số khung: 387746 cho anh Nguyễn Minh H3 (anh trai ruột của bị cáo L);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream màu sơn nâu BKS: 99F1-069.xx; số máy: 14782xx; số khung: 178384 cho ông Trần Văn V (bố đẻ của bị cáo T1).
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Vision màu sơn đen BKS: 99F1-666.xx; số máy: 81271xx; số khung: 002974 cho chị Vương Thị H (mẹ đẻ của bị cáo Q);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Airblade màu sơn đen vàng BKS: 99F 1-666.xx; số máy: 02038xx; số khung: 225693 cho chị Nguyễn Thị L1 (chị gái ruột của bị cáo Đ).
Về dân sự: Không
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST.
Lời nói sau cùng các bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Lần thứ nhất: Sáng ngày 27/9/2024, Q nhắn tin bảo Nguyễn Văn Đ đóng gói 100.000 đồng ma túy Tobaco để ship bán cho Đinh Văn K tại thị trấn Q, huyện M, TP.H. Đ ship ma túy cho K và thu của K 250.000 đồng (trong đó 150.000 đồng là tiền ship Đ được hưởng).
Lần thứ hai: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, Q nhận được tin nhắn mua 500.000 đồng ma túy Tobaco của khách (không rõ nhân thân lai lịch) nên đã nhắn tin bảo Nguyễn Bảo L đóng gói 13 gam ma túy Tobaco và giao đến ngõ D H, phường C, N, tp.H. Tiền mua ma túy khách đã chuyển khoản cho Q 560.000 đồng (trong đó 60.000 đồng là tiền ship L được hưởng, Q chưa đưa lại tiền ship cho L). L đã đóng gói ma túy và giao cho khách.
Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ ngày 30/9/2024, Q nhận được tin nhắn mua 500.000 đồng ma túy Tobaco của khách (không rõ nhân thân lai lịch) nên đã nhắn tin bảo Trần Văn T1 đóng gói 17 gam ma túy để giao cho khách (không rõ nhân thân lai lịch) tại ngõ D H. Tiền mua ma túy khách đã chuyển khoản cho Q 560.000 đồng (trong đó 60.000 đồng là tiền ship T1 được hưởng, Q chưa đưa lại tiền ship cho T1). Thật lấy ma túy tobaco trong tủ cho vào 02 hộp giấy bìa các tông (01 hộp ghi chữ “HÀM NGHI’ có chứa 17,45 gam thảo mộc khô có chứa ma túy loại ADB-BTINACA và ma tuý MDMB-4en-PINACA để giao cho khách; 01 hộp còn lại có chứa 16,93 gam thảo mộc khô có chứa ma túy loại ADB-BTINACA và ma tuý MDMB-4en-PINACA đợi có khách mua thì T1 sẽ đi giao sau). Sau đó T1 đi giao ma túy cho khách tại ngõ D H, khi đang đứng đợi khách thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải, khám xét chỗ ở của các đối tượng, đã thu giữ của Nguyễn Khắc Q 1026,43 gam thảo mộc khô có chứa ma túy loại ADB-BTINACA và ma tuý MDMB-4en-PINACA; thu giữ của Nguyễn Văn Đ 17,87gam thảo mộc khô có chứa ma túy ADB-BTINACA và ma tuý MDMB-4en-PINACA.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình mua bán ma túy để kiếm lời. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vụ án có đồng phạm giản đơn. Bị cáo Q có vai trò đầu vụ, là người trực tiếp mua ma túy và nhận tiền bán ma túy. Các bị cáo L, T1, Đ được bị cáo Q thuê đi ship hàng, hưởng tiền công ship.
Nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và Nguyễn Văn Đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều tự khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần. Khi bị bắt số lượng ma tuý thu được của các bị cáo thuộc khung hình phạt tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên các bị cáo tự nguyện khai ra trước đây đã bán ma tuý và đi ship nhiều lần.
Đối với bị cáo Q: bị cáo hiện đang là sinh viên trường Đại học G, ông nội và ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng.
Đối với bị cáo Đ: bị cáo hiện đang là sinh viên tại Trung tâm Đ2, bị cáo tự nguyện ủng hộ tiền quỹ vì người nghèo năm 2023 có xác nhận của Ủy ban Mặt trận tổ quốc phường H, thị xã T, tỉnh B, ông bà của bị cáo là người có công với cách mạng; Gia đình của bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị cáo sống cùng bà nội hơn 80 tuổi vẫn đang phải nuôi bị cáo ăn học.
Đối với bị cáo L: ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng.
Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên: Xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm là:
+ Tịch thu tiêu hủy: 03 thùng giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Nguyễn Khắc Q, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận Nam Từ Liêm; 02 hộp giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Trần Văn T1, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận Nam Từ Liêm; 01 hộp giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Nguyễn Văn Đ, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận Nam Từ Liêm; 01 túi đeo.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Google Pixel 6a vỏ màu xanh bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Pro max vỏ màu xám bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max vỏ màu vàng bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 vỏ màu trắng bên trong lắp 01 sim.
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu sơn xanh đen bạc BKS: 99G1-096.xx; số máy: 31874xx; số khung: 387746 cho anh Nguyễn Minh H3 (anh trai ruột của bị cáo L);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream màu sơn nâu BKS: 99F1-069.xx; số máy: 14782xx; số khung: 178384 cho ông Trần Văn V (bố đẻ của bị cáo T1);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Vision màu sơn đen BKS: 99F1-666.xx; số máy: 81271xx; số khung: 002974 cho chị Vương Thị H (mẹ đẻ của bị cáo Q);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Airblade màu sơn đen vàng BKS: 99F 1-666.xx; số máy: 02038xx; số khung: 225693 cho chị Nguyễn Thị L1 (chị gái ruột của bị cáo Đ).
+ Cần buộc bị cáo Q truy nộp 1.220.000 đồng và bị cáo Đại truy nộp 150.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
Về dân sự: Không.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Khắc Q, Trần Văn T1, Nguyễn Bảo L và
Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:
Xử phạt Nguyễn Khắc Q 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2024.
Xử phạt Trần Văn T1 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.
Xử phạt Nguyễn Bảo L 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.
Áp dụng Điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015:
Xử phạt Nguyễn Văn Đ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.
1. Về dân sự: Không.
2. Về vật chứng:
Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 03 thùng giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Nguyễn Khắc Q, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận N; 02 hộp giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Trần Văn T1, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận N; 01 hộp giấy các tông niêm phong dán kín bằng giấy có chữ ký của Nguyễn Văn Đ, cán bộ Nguyễn Khắc Tiến T5, giám định viên Nguyễn Hoàng H4 và dấu tròn của Cơ quan CSĐT - Công an Quận N; 01 túi đeo.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Google Pixel 6a vỏ màu xanh bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Pro max vỏ màu xám bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max vỏ màu vàng bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 vỏ màu trắng bên trong lắp 01 sim.
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu sơn xanh đen bạc BKS: 99G1-096.xx; số máy: 31874xx; số khung: 387746 cho anh Nguyễn Minh H3 (anh trai ruột của bị cáo L);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream màu sơn nâu BKS: 99F1-069.xx; số máy: 14782xx; số khung: 178384 cho ông Trần Văn V (bố đẻ của bị cáo T1);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Vision màu sơn đen BKS: 99F1-666.xx; số máy: 81271xx; số khung: 002974 cho chị Vương Thị H (mẹ đẻ của bị cáo Q);
+ Trả lại 01 xe máy kiểu dáng Honda Airblade màu sơn đen vàng BKS: 99F 1-666.xx; số máy: 02038xx; số khung: 225693 cho chị Nguyễn Thị L1 (chị gái ruột của bị cáo Đ).
+ Buộc bị cáo Q truy nộp 1.220.000 đồng và bị cáo Đại truy nộp 150.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 92 ngày 09/12/2024).
1. Về án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; người liên quan; - VKSND Q.Nam Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q.Nam Từ Liêm; - TT lý lịch-Sở Tư pháp TP . Hà Nội; - Chi cục THADS Q.NamTừ Liêm; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thúy Anh |