vanban.org

Bản án 3848/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Luâ ̣t phi vá ̀ lê ̣ phi năm 2015;́

Căn cứ Nghi ̣ quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi vá ̀ lê ̣ phi Tó ̀a án; 1-/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Luâ ̣t phi vá ̀ lê ̣ phi năm 2015;́
  • Căn cứ chính? Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3848/2022/DS-ST
Ngày: 29-9-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC –THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Nguyên Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Tiến Dũng

2/ Bà Bùi Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 867/2021/TLST- DS ngày 31 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5995/2022/QĐXXST - DS ngày 23 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 6579/2022/QĐST – DS ngày 13 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Uyên T1, sinh năm: 1979

Địa chỉ: 247-247Bis-249 đường M, phường N, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Đặng Thạch T, sinh năm: 1990

Cư trú: 501/4/3 đường V, Khu phố X, phường Y, thành phố Z, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2021, bản tự khai, biên bản phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p, tiếp câ ̣n công khai chứ ng cứ , biên bản không tiến hành hòa giải được và quá trinh tranh tu ̣̀

ng ta ̣i tòa, bà Lê Thị Uyên T1 là ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trinh bà

̀y:

Ngày 13/9/2016, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng S) có nhận được giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Đặng Thạch T. Sau khi xem xét đề nghị của ông T, Ngân hàng S căn cứ vào điều kiện, mức thu nhập của ông T đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông T với hạn mức sử dụng tối đa 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Theo Quyết định số 4291/2015/QĐ-TTT ngày 16/12/2015 của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP S, mức lãi suất đối với hạn mức thẻ được cấp là 2.15%/tháng, đến ngày 06 tháng 8 năm 2019 thì Ngân hàng điều chỉnh mức lãi suất lên 2.6%/tháng (theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-VBLQ ngày 06/8/2019 của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP S), lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn. Ông T đã nhận thẻ và thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 79.770.821 đồng. Sau khi sử dụng thẻ, ông T thanh toán tiền cho Ngân hàng không đúng quy định, tính đến ngày 30/02/2021 sau nhiều đợt thanh toán thì tổng số tiền ông T đã thanh toán là 85.773.943 đồng. Do ông T vi phạm thời hạn thanh toán nên ngày 30/6/2021 Ngân hàng đã chấm dứt hoạt động thẻ tín dụng của ông T và chuyển toàn bộ số tiền nợ gốc thành nợ quá hạn. Ngân hàng S đã liên hệ với ông T nhiều lần yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi còn nợ nhưng ông T không thực hiện vì vậy Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu ông Đặng Thạch T phải thanh toán ngay số tiền 37.866.893 đồng, trong đó nợ gốc 23.205.731 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 14.661.162 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 30/9/2022 cho đến khi ông Đặng Thạch T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Nguyên đơn xác định chỉ cho cá nhân ông Đặng Thạch T vay tiền, không liên quan gì đến ai, do đó nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông T có trách nhiệm trả số tiền còn nợ cho nguyên đơn.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Đặng Thạch T nhưng ông T không đến Tòa làm việc và Tòa án cũng không nhận được ý kiến gì của ông T về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Uyên T1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Đặng Thạch T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử cần rút kinh nghiệm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buô ̣c ông Đặng Thạch T phải có trách nhiê ̣m thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền gốc và lai cõ ̀n nợ ta ̣m tinh đến ngá

̀y 29/9/2022 là 37.866.893 đồng, trong đó nợ gốc 23.205.731 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 14.661.162 đồng. Ông T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 30/9/2022 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Về án phí, bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho Ngân hàng.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứ ng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S buộc bị đơn ông Đặng Thạch T phải thanh toán số tiền nợ vay thì tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án ông Đặng Thạch T có hộ khẩu thường trú tại 501/4/3 đường Kha Vạn Cân, Khu phố 5, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Uyên T1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Đặng Thạch T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung:

Căn cứ lời khai của phía nguyên đơn cùng giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định vào ngày 13/9/2016 bị đơn có đề nghị nguyên đơn cấp thẻ tín dụng hạn mức 20.000.000 đồng. Sau khi xem xét nguyện vọng, điều kiện của bị đơn, Ngân hàng đã phê duyệt đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức tín dụng 20.000.000 đồng cho bị đơn.

Quá trình Toà án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không giao nộp chứ ng cứ chứng minh về việc thanh toán số tiền đã giao dịch bằng thẻ tín dụng. Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của phía nguyên đơn và bản tóm tắt sao kê ngày 29/9/2022, căn cứ hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng để xác đi ̣nh bi ̣ đơn đa nhận thẻ tín dụng và thực hiện giao dịch, tổng̃ cộng bị đơn đã có 31 lần giao dịch bằng thẻ tín dụng với tổng số tiền 79.770.821 đồng trong thời gian từ ngày 31/10/2016 đến ngày 30/9/2020. Sau các lần giao dịch, từ ngày 31/10/2016 đến ngày 28/02/2021 bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 85.773.943 đồng, các khoản phí và lãi suất phát sinh được ưu tiên thanh toán trước, số còn lại được trừ vào nợ gốc nên số tiền gốc bị đơn còn nợ là 23.205.731 đồng.

Xét, do bị đơn vi phạm về thời gian thanh toán nên ngày 30/6/2021 nguyên đơn đã chuyển số tiền 23.205.731 đồng thành nợ quá hạn và yêu cầu bị đơn phải thanh toán 14.661.162 đồng tiền lãi suất quá hạn từ ngày 30/6/2021 cho đến ngày 29/9/2022 là phù hợp với quy định tại mục 22, 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Á n phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 471; 474 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luâ ̣t phi vá ̀ lê ̣ phi năm 2015;́

Căn cứ Nghi ̣ quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi vá ̀ lê ̣ phi Tó ̀a án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1-/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc ông Đặng Thạch T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ 37.866.893 đ (Ba mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn tám trăm chín mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc 23.205.731 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 14.661.162 đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

2-/ Á n phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Thạch T phải chi ̣u án phi dân sự sơ

́ thẩm là 1.893.345 đ (Một triệu tám trăm chín mươi ba ngàn ba trăm bốn mươi lăm đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chi ̣u án phi dân sự sơ thẩm,

́ hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 716.649 đ (Bảy trăm mười sáu ngàn sáu trăm bốn mươi chín đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0025300 ngày 29/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng thương mại cổ phần S.

3-/ Quyền và thời hạn kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt ta ̣i phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhâ ̣n được bản án hoă ̣c bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đa đượ̃

c sử a đổi bổ sung năm 2014”;

Cỡ chữ