- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THỊ TUYẾT N - NGUYỄN VĂN L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 383/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27-02-2026 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Hoa.
Ông Phan Minh Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 950/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1970; địa chỉ thường trú: Kiệt đường B, phường Đ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là phường T, Thành phố Huế); địa chỉ liên lạc: đường B, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971; địa chỉ: đường P, phường T (Phường X, quận G cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết N trình bày như sau:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn L chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 53 quyển số: 09 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 15 tháng 11 năm 1997. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc trong những năm đầu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hòa hợp về tính cách, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm vợ chồng. Vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã ly thân từ khoảng năm 2013 đến nay. Vợ chồng đã có thời gian để hàn gắn nhưng không được. Bà xác định hiện nay không còn tình cảm với ông L nữa. Nay nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống riêng của mỗi người. Về con chung: Bà N xác nhận cả hai có 02 con chung tên là Nguyễn Trần Dạ T2 - sinh ngày 07/5/1996 và Nguyễn Trần Dạ T1 - sinh ngày 07/10/2003. Các con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Bà N xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà N xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn là ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tự khai, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông L đều vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Bà Trần Thị Tuyết N được ly hôn với ông Nguyễn Văn L; về con chung: Bà N xác nhận cả hai có 02 con chung tên là Nguyễn Trần Dạ T2 - sinh ngày 07/5/1996 và Nguyễn Trần Dạ T1 - sinh ngày 07/10/2003. Các con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 53 quyển số: 09 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 15 tháng 11 năm 1997 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Tuyết N và ông Nguyễn Văn L là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh.
Căn cứ đơn khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết N thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, bị đơn là ông Nguyễn Văn L thực tế cư trú tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về thủ tục tố tụng:
Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Văn L đến Toà để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; tham gia giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa xét xử vụ án (ngày 29/01/2026 và ngày 27/02/2026) nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Tuyết N và ông Nguyễn Văn L tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 11 năm 1997 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Tuyết N và ông Nguyễn Văn L là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do đó bà N yêu cầu ly hôn.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên, do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên bà N và ông L đã ly thân từ khoảng năm 2013 đến nay. Bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông L. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với ông Nguyễn Văn L đến Tòa án để tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L đều vắng mặt không có lý do, cũng như không nộp cho Tòa án ý kiến hay yêu cầu của mình về việc giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông L đã từ bỏ các quyền được pháp luật quy định. Nên Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ bà Trần Thị Tuyết N xuất trình để xác định ông L hoàn toàn không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà N và cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Tuyết N là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [3.2] Về con chung: Căn cứ giấy khai sinh số 197 quyển số 14 cấp ngày 12/11/1997 và số 144/2005 cấp ngày 05/8/2005 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xác định được: Cả hai có 02 con chung tên là Nguyễn Trần Dạ T2, sinh ngày 07/5/1996 và Nguyễn Trần Dạ T1, sinh ngày 07/10/2003. Xét thấy, các con chung đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3.3] Về tài sản chung: Bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3.4] Về nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trần Thị Tuyết N phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bà Trần Thị Tuyết N đã nộp đủ án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Các điều 51, 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết N:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết N được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
(Giấy chứng nhận kết hôn số: 53 quyển số: 09 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 15 tháng 11 năm 1997 hết hiệu lực).
- Về con chung: Cả hai có 02 con chung tên là Nguyễn Trần Dạ T2 - sinh ngày 07/5/1996 và Nguyễn Trần Dạ T1 - sinh ngày 07/10/2003. Các con chung đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Trần Thị Tuyết N phải chịu, được trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0031262 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự đã nộp đủ án phí.
Bà Trần Thị Tuyết N và ông Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.H; - VKSND Khu vực 7-Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuyết Mai |