vanban.org

Bản án 383/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 06/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Huy H1.

Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D. S a Bản án hình s sơ th m số 28/2022/HS-ST ngày 26-5-2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định về Phần Trách nhiệm hình s đối với các bị cáo Lê Huy H1, Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn H cùng đồng phạm - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Huy H1.
  • Căn cứ chính? Điều 305 Bộ luật Hình s; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình s; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 383/2022/HS-PT
Ngày: 06-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tào

Ông Lê Phước Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 06-9-2022, tại điểm cầu Trung tâm từ trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng với điểm cầu Thành phần tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét x ph c th m c ng khai vụ án hình s thụ lý số 274/2022/TLPT-HS ngày 04-7-2022 đối với bị cáo Đỗ Văn H cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình s sơ th m số 28/2022/HS-ST ngày 26-5-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Các bị cáo kháng cáo:

1. Lê Huy H1, sinh năm 1983 tại Bình Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tỉnh Bình Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lái máy đào; con ng Lê C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1959; vợ là Đinh Thị T, sinh năm 1983 và có 02 con; tiền án, tiền s : Kh ng.

Bị cáo bị bắt ngày 19-7-2021; đến ngày 15-11-2021, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư tr , có mặt tại điểm cầu Thành phần, trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định.

2. Phan C, sinh năm 1966 tại Bình Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tỉnh Bình Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Khai thác đá; con ng Phan Đình L và bà Đặng Thị Đ (đã chết); vợ là Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1967 (là bị cáo trong vụ án) và có 02 con; tiền án, tiền s : Kh ng.

Bị cáo tại ngoại nơi cư tr , có mặt tại điểm cầu Thành phần, trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định.

3. Nguyễn Văn D, sinh năm 1977 tại Thái Bình; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tỉnh Bình Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lái máy đào; con ng: Nguyễn Văn B và bà Đặng Thị H (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 và có 02 con; tiền án, tiền s : Kh ng.

Bị cáo tại ngoại nơi cư tr , có mặt tại điểm cầu Thành phần, trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định.

4. Trần Đình T, sinh năm 1992 tại Bình Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tỉnh Bình Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lái máy đào; con ng Trần Văn L, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1969; vợ là Trần Thị Ái T, sinh năm 1994 và có 02 con; tiền án, tiền s : Kh ng.

Bị cáo tại ngoại nơi cư tr , có mặt tại điểm cầu Thành phần, trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định.

(Vụ án còn có các bị cáo Đỗ Văn H, Lê Thị Mỹ T, Tống Đức D và Phạm Văn H1 nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị và có 12 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không liên quan đến kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 ph t ngày 19-7-2021, qua tuần tra kiểm soát trên địa bàn, C ng an xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định phát hiện Lê Huy H1 điều khiển xe m t biển kiểm soát 77L1-23494 có biểu hiện nghi vấn, nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện H1 đang vận chuyển 08 kg thuốc nổ nhũ tương, 02 cuộn dây nổ và 200 kíp nổ điện. Quá trình điều tra xác định nguồn gốc số vật liệu nổ là của Đỗ Văn H bán lại cho Lê Huy H1 cụ thể như sau:

C ng ty TNHH H - Granite có trụ sở tại phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định có ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất đá Granite và khai thác mỏ đá. C ng ty được Cục Kỹ thuật an toàn và M i trường c ng nghiệp thuộc Bộ C ng thương cấp giấy phép s dụng vật liệu nổ c ng nghiệp gồm: Thuốc nổ nhũ tương, kíp nổ điện và dây nổ chịu nước để nổ mìn khai thác đá tại khu v c mỏ đá n i A thuộc thị xã A, tỉnh Bình Định.

Để khai thác đá, c ng ty ký các quyết định phân c ng và giao nhiệm vụ cho các thành phần tham gia quản lý và s dụng vật liệu nổ như: Nguyễn Ái T là chỉ huy nổ mìn, Nguyễn Văn L là quản đốc, Nguyễn Q H là thủ kho vật liệu nổ, Bùi Văn L, Phạm Văn T, Nguyễn Văn V và Phùng Thanh S là tổ gác mìn bảo vệ, Đỗ Văn H là c ng nhân nổ mìn, nhiệm vụ của H là tr c tiếp s dụng vật liệu nổ của c ng ty để nổ mìn khai thác đá. Mỗi lần nổ mìn khai thác đá, Tổ nổ mìn được c ng ty cấp cho số lượng vật liệu nổ theo đ ng tiêu chu n, định mức quy định. Tuy nhiên, lợi dụng c ng việc được giao về s dụng vật liệu nổ, trong quá trình nhồi vật liệu nổ vào các lỗ khoan nổ mìn, Đỗ Văn H nhiều lần cắt xén, s dụng ít hơn định mức tiêu chu n cho phép để lấy vật liệu nổ còn thừa, cất giấu rồi bán cho Lê Huy H1 lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ ngày 28-4-2021 đến ngày 19-7-2021, Đỗ Văn H 04 lần lấy vật liệu nổ, tổng cộng 28 kg thuốc nổ nhũ tương, 625 kíp nổ điện và 07 cuộn dây nổ chịu nước bán cho Lê Huy H1, sau đó H1 bán lại cho các đối tượng khác để hưởng tiền chênh lệch:

Lần 1: Khoảng giữa tháng 4-2021, Trần Đình T là c ng nhân nhận thầu mở rộng phần diện tích Nhà máy của C ng ty TNHH N thuộc Khu c ng nghiệp P, thành phố Q và Nguyễn Văn D là c ng nhân khai thác đá cho Doanh nghiệp tư nhân T - Đá Granite (nay là C ng ty TNHH Đá Granite S Hà) thuộc Khu c ng nghiệp P, thành phố Q điện thoại cho Lê Huy H1 (l c này là c ng nhân lái máy đào) tại Khu c ng nghiệp P hỏi mua vật liệu nổ để nổ mìn phá đá. Do quen Đỗ Văn H, nên H1 điện thoại cho H đặt mua vật liệu nổ để bán lại cho T và D. Ngày 27-4-2021, H1 liên lạc thì được H cho biết đang có 08 kg thuốc nổ nhũ tương, 100 kíp nổ điện và 01 cuộn dây nổ chịu nước dài 50 m, giá 300.000 đồng/01 kg thuốc nổ, 15.000 đồng/01 kíp nổ và 750.000 đồng/01 cuộn dây nổ, tổng cộng là 4.650.000 đồng và hẹn l c 6 giờ sáng ngày 28-4-2021 sẽ giao hàng tại Khu nghĩa trang xã N, thị xã A. Nhận được th ng tin, H1 điện thoại th ng báo cho T biết đang có 04 kg thuốc nổ nhũ tương, 50 kíp nổ điện với giá 350.000 đồng/01 kg thuốc nổ, 20.000 đồng/01 kíp nổ điện, tổng cộng là 2.400.000 đồng, T đồng ý mua và chiều tối ngày 27-4-2021, T đến nhà H1 đưa trước 2.400.000 đồng. H1 tiếp tục điện thoại th ng báo cho D biết đang có 04 kg thuốc nổ nhũ tương, 50 kíp nổ điện và 01 cuộn dây nổ chịu nước với giá 350.000 đồng/01 kg thuốc nổ, 20.000 đồng/01 kíp nổ điện và 800.000 đồng/01 cuộn dây nổ, tổng cộng là 3.200.000 đồng. Tối ngày 27-4-2021, H1 đến trước xưởng Gas thuộc khu c ng nghiệp P, thành phố Q lấy trước của D 3.200.000 đồng. Ngày 28-4-2021, H1 nhận vật liệu nổ từ H rồi bán lại cho T và D với số lượng và giá tiền như trên. Sau khi mua vật liệu nổ, D tr c tiếp s dụng để nổ mìn phá đá mở rộng phần diện tích mặt bằng của Doanh nghiệp tư nhân T - Đá Granite, còn T thuê Nguyễn Anh T khoan gi p các lỗ khoan vào các khối đá. Sau đó, T tr c tiếp s dụng vật liệu nổ để nổ mìn phá đá mở rộng phần diện tích mặt bằng Nhà máy của c ng ty TNHH N.

Lần 2: Khoảng đầu tháng 5-2021, Phạm Văn H1 làm nghề khai thác đá tại n i H thuộc phường Trần Quang Diệu, thành phố Q điện thoại cho Lê Huy H1 hỏi mua vật liệu nổ để khai thác đá, H1 điện thoại cho Đỗ Văn H đặt mua vật liệu nổ. Ngày 19-5-2021, H th ng báo cho H1 biết hiện đang có 04 kg thuốc nổ nhũ tương, 125 kíp nổ điện và 02 cuộn dây nổ chịu nước (mỗi cuộn dài 50 m) với giá 4.575.000 đồng và hẹn khoảng 18 giờ ngày 19-5-2021, sẽ giao nhận tại Khu nghĩa trang xã N, thị xã A. Lê Huy H1 th ng báo cho Phạm Văn H1 biết đang có 04 kg thuốc nổ, 125 kíp nổ điện và 02 cuộn dây nổ chịu nước với giá 5.500.000 đồng và hẹn khoảng 19 giờ ngày 19-5-2021 sẽ giao hàng. Khoảng 17 giờ ngày 19-5-2021, Phạm Văn H1 hẹn Lê Huy H1 đến trụ ATM thuộc Ngân hàng V (gần Ngã ba P, thành phố Q) rồi đưa cho Lê Huy H1 5.500.000 đồng và nhận vật liệu nổ.

Lần 3: Đầu tháng 6-2021, Phan C làm nghề khai thác đá tại n i H thuộc phường Trần Quang Diệu, thành phố Q cần vật liệu nổ để khai thác đá nên đã hỏi mua của Lê Huy H1, nhưng H1 chưa có. Vài ngày sau, C nói vợ là Lê Thị Mỹ T điện thoại cho H1 tiếp tục hỏi mua vật liệu nổ. H1 điện thoại cho Đỗ Văn H đặt mua vật liệu nổ và ngày 29-6-2021, H th ng báo cho H1 biết đang có 08 kg thuốc nổ nhũ tương, 200 kíp nổ điện và 02 cuộn dây nổ chịu nước với giá 6.900.000 đồng và hẹn khoảng 06 giờ sáng ngày 30-6-2021 sẽ giao nhận tại Khu nghĩa trang xã N, thị xã A. Sau khi có vật liệu nổ, H1 bán cho T với giá 350.000 đồng/01 kg thuốc nổ, 20.000 đồng/01 kíp nổ và 800.000 đồng/01 cuộn dây nổ, tổng cộng là 8.400.000 đồng.

Cũng trong thời gian này, Lê Thanh Q điện thoại cho vợ chồng Phan C và Lê Thị Mỹ T hỏi mua 500 kíp nổ điện. Phan C nhờ Tống Đức D làm nghề bu n bán đá xây d ng mua gi p vật liệu nổ với mục đích khai thác đá và bán lại cho Lê Thanh Q. Vài ngày sau, trong lần đi Gia Lai mua đá màu để sản xuất, D th ng qua một người đàn ng (kh ng rõ lai lịch) mua gi p cho C 300 kíp nổ điện với giá 20.000 đồng/01 kíp nổ, tổng cộng là 6.000.000 đồng. Sau khi có đủ số kíp nổ điện, khoảng 16 giờ ngày 30-6-202, T bán cho Q 500 kíp nổ với giá 14.500.000 đồng. Q mang 500 kíp nổ điện về cất giấu trong phòng ngủ tại nhà và đến 09 giờ 15 ph t ngày 01-7-2021, thì bị C ng an phường N, thành phố Q kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang.

Do bán 500 kíp nổ điện cho Lê Thanh Q, nên Phan C bị thiếu kíp nổ điện để s dụng khai thác đá, nên đầu tháng 7-2021, C th ng qua một người đàn ng (kh ng rõ lai lịch) là thợ khai thác đá tại n i H mua 30 kíp nổ điện với giá 600.000 đồng (20.000 đồng/01 kíp) rồi thuê Lê Văn N khoan các lỗ khoan đá nổ mìn tại n i H thuộc phường T, thành phố Q.

Lần 4: Khoảng cuối tháng 6-2021 đến giữa tháng 7-2021, Trần Đình T và Nguyễn Văn D điện thoại cho Lê Huy H1 hỏi mua vật liệu nổ để phá đá mở rộng diện tích mặt bằng tại các c ng ty nêu trên, H1 điện thoại cho Đỗ Văn H đặt mua vật liệu nổ. Ngày 18-7-2021, H th ng báo cho H1 biết hiện đang có 08 kg thuốc nổ nhũ tương, 200 kíp nổ điện và 02 cuộn dây nổ chịu nước với giá 6.900.000 đồng và hẹn khoảng 6 giờ 15 ph t ngày 19-7-2021 sẽ giao nhận tại Khu nghĩa trang xã N, thị xã A. H1 điện thoại th ng báo cho T biết hiện đang có 04 kg thuốc nổ nhũ tương, 100 kíp nổ điện, 01 cuộn dây nổ chịu nước với giá 4.200.000 đồng, nhưng vì là chỗ thân thiết nên H1 giảm 300.000 đồng, T đồng ý mua và đem 3.900.000 đồng đến nhà Nguyễn Anh T, nhờ T đưa tiền cho H1 nhưng T kh ng nói cho T biết mục đích đưa tiền cho H1 để làm gì. Sau đó, H1 tiếp tục điện thoại th ng báo cho D biết hiện đang có 04 kg thuốc nổ nhũ tương, 100 kíp nổ điện, 01 cuộn dây nổ chịu nước với 4.200.000 đồng và hẹn ngày 19-7-2021 sẽ giao hàng. Tối ngày 18-7-2021, H1 hẹn D đến đoạn đường vắng gần thuộc khu c ng nghiệp P, thành phố Q để lấy trước 4.200.000 đồng.

Như đã hẹn trước, l c 5 giờ 30 ph t ngày 19-7-2021, H1 điều khiển xe máy đến Ngã ba thị trấn D, huyện T nhận 3.900.000 đồng của T (do Nguyễn Anh T đưa), sau đó H1 đến Khu nghĩa trang xã N, thị xã A để mua vật liệu nổ từ Đỗ Văn H. Khi đến địa điểm, H giao cho H1 02 t i nilon màu đen và nói cho H1 biết t i nhỏ đ ng 200 kíp nổ điện, t i lớn đ ng 08 kg thuốc nổ nhũ tương và 02 cuộn dây nổ chịu nước, H1 nhận 02 t i vật liệu nổ và đưa H 6.900.000 đồng rồi H1 chở số vật liệu nổ về để bán lại cho T và Văn D (mỗi người 04 kg thuốc nổ, 100 kíp nổ điện và 01 cuộn dây nổ chịu nước). Tuy nhiên, khi H1 đi đến đoạn đường Q lộ 19 thuộc th n T L 1, xã N, thị xã A thì bị C ng an xã N bắt quả tang.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã nộp tiền thu lợi bất chính là 32.100.000 đồng (Đỗ Văn H nộp 23.025.000 đồng, Lê Huy H1 nộp 4.575.000 đồng, Phan C nộp 4.500.000 đồng,).

Ngày 21-7-2021, Phân viện Khoa học hình s tại thành phố Đà Nẵng kết luận:

- 40 thỏi hình trụ tròn (vỏ bằng nilon màu trắng, bên trong mỗi thỏi có chất dẻo màu trắng ngà) g i giám định đều là thuốc nổ nhũ tương, hiện tại còn s dụng được. Thuốc nhũ tương là thuốc nổ c ng nghiệp thường được s dụng trong khai thác đá, hầm mỏ; tổng khối lượng mẫu vật là 08 kg.

- 200 vật hình trụ tròn vỏ bằng kim loại màu trắng (mỗi vật dài 4,7 cm, đường kính 0,7 cm, một đầu bịt kín, đầu còn lại được gắn hai đoạn dây điện bằng đồng loại một sợi, vỏ nh a màu đỏ và vàng) là kíp nổ điện, hiện còn s dụng được. Kíp nổ có tác dụng kích nổ khối thuốc nổ.

- 02 cuộn dây vỏ bằng nh a màu đỏ (hai đầu bịt kín bằng kim loại màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng xám) g i giám định đều là dây nổ chịu nước, hiện tại còn s dụng được. Dây nổ chịu nước có tác dụng truyền nổ đến khối thuốc nổ, thường được dùng trong m i trường nước, chiều dài mỗi cuộn là 50 m, khối lượng mỗi cuộn là 1,35 kg.

Các mẫu vật nêu trên (40 thỏi hình trụ tròn, 200 vật hình trụ tròn vỏ bằng kim loại màu trắng, 02 cuộn dây vỏ bằng nh a màu đỏ) đều là vật liệu nổ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 26-5-2022, Toà án nhân dân tỉnh Bình Định:

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình s , x phạt:

- Lê Huy H1 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 19-7-2021 đến ngày 15-11-2021).

2. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình s , x phạt:

- Phan C 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình s , x phạt:

- Nguyễn Văn D 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

- Trần Đình T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ th m còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Văn H, Tống Đức D, Lê Thị Mỹ T và Phạm Văn H1; quyết định x lý vật chứng, án phí và th ng báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 27-5-2022, Lê Huy H1 kháng cáo xin giảm hình phạt.

- Ngày 27-5-2022, Trần Đình T kháng cáo xin giảm hình phạt và ngày 29-8-2022 kháng cáo bổ sung, đề nghị được hưởng án treo.

- Ngày 01-6-2022, Nguyễn Văn D kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.

- Ngày 05-6-2022, Phan C kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Sau khi xét x sơ th m, Lê Huy H1, Phan C, Nguyễn Văn D và Trần Đình T kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo của các bị cáo là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình s , do đó Hội đồng xét x quyết định đưa vụ án ra xét x ph c th m.

Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét x ph c th m căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình s :

- Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Huy H1.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D.

- S a Bản án hình s sơ th m số 28/2022/HS-ST ngày 26-5-2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định, theo hướng giữ nguyên hình phạt và cho các bị cáo Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D.

Các bị cáo kh ng tranh luận, chỉ đề nghị giảm hình phạt và được hưởng án treo.

. Xét kháng cáo của bị cáo:

. Về tội danh:

Đỗ Văn H là c ng nhân nổ mìn thuộc C ng ty TNHH H - Granite, bị cáo có nhiệm vụ tr c tiếp s dụng vật liệu nổ của c ng ty để nổ mìn khai thác đá. Trong quá trình nhồi vật liệu nổ vào các lỗ khoan để nổ mìn, H nhiều lần s dụng ít hơn định mức tiêu chu n cho phép, lấy vật liệu nổ còn thừa để bán lại cho Lê Huy H1. Từ ngày 28-4-2021 đến ngày 19-7-2021, H 04 lần lấy vật liệu nổ, tổng cộng là 28 kg thuốc nổ nhũ tương, 625 kíp nổ điện và 07 cuộn dây nổ chịu nước bán cho H1. Sau khi mua được vật liệu nổ từ H, H1 bán lại cho vợ chồng Phan C, Lê Thị Mỹ T 08 kg thuốc nổ nhũ tương, 200 kíp nổ điện và 02 cuộn dây nổ chịu nước; bán cho Nguyễn Văn D 02 lần gồm 08 kg thuốc nổ nhũ tương, 150 kíp nổ điện và 02 cuộn dây nổ chịu nước; bán cho Trần Đình T 02 lần gồm 08 kg thuốc nổ nhũ tương, 150 kíp nổ điện và 01 cuộn dây nổ chịu nước và bán cho Phạm Văn H1 04 kg thuốc nổ, 125 kíp nổ điện và 02 cuộn dây nổ chịu nước. Ngoài ra, Phan C còn nhờ Tống Đức D mua cho C 300 kíp nổ điện và C t mua của một người đàn ng kh ng rõ lai lịch 30 kíp nổ điện. Sau khi mua được kíp nổ của Lê Huy H1 và Tống Đức D, C cùng vợ là Lê Thị Mỹ T bán lại 500 kíp nổ điện cho Lê Thanh Q.

Với hành vi phạm tội như nêu trên, Toà án nhân dân tỉnh Bình Định kết án Lê Huy H1 về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo điểm b khoản 2 Điều 305 của Bộ luật Hình s ; kết án Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật Hình s là có căn cứ, đ ng pháp luật.

. Về hình phạt:

Các bị cáo có đủ năng l c hành vi để nhận thức vật liệu nổ được Nhà nước quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ và s dụng trái phép, nhưng vì mục đích khai thác đá và vì mục đích thu lợi cá nhân, các bị cáo đã th c hiện hành vi mua bán trái phép vật liệu nổ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này kh ng những xâm phạm tr c tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về vật liệu nổ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật t tại địa phương. Do đó, các bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định x phạt từ 15 tháng đến 03 năm tù.

Các bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo, do đó Hội đồng xét x ph c th m sẽ xem xét hành vi phạm tội, đánh giá vai trò của từng bị cáo để có mức hình phạt cụ thể.

- Đối với Lê Huy H1:

Bị cáo 04 lần mua bán vật liệu nổ, với tổng số lượng là 28 kg thuốc nổ nhũ tương, 625 kíp nổ điện và 07 cuộn dây nổ chịu nước. Sau đó, bán lại số vật liệu nổ này cho Nguyễn Văn D, Trần Đình T, Phan C, Lê Thị Mỹ T và Phạm Văn H1, thu lợi bất chính 4.575.000 đồng, nên cần phải x phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s như thành kh n khai báo, ăn năn hối cải và đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính, theo Án lệ số 48/2021/AL ngày 25-11-2021 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao, thì đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình s ; ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình; trước khi phạm tội, bị cáo đã th c hiện nghĩa vụ quân s và hiện nay bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo (U sùi hạ họng thanh quản). Vì vậy, Hội đồng xét x ph c th m chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Đối với Phan C và Nguyễn Văn D:

Bị cáo Phan C 01 lần mua vật liệu nổ trái phép của Lê Huy H1, 01 lần th ng qua bị cáo Tống Đức D mua 300 kíp nổ điện và 01 lần tr c tiếp mua của một người đàn ng (kh ng rõ lai lịch) 30 kíp nổ điện, sau đó cùng vợ là bị cáo Lê Thị Mỹ T bán lại cho Lê Thanh Q, thu lợi bất chính 4.500.000 đồng; còn bị cáo Nguyễn Văn D mua trái phép vật liệu nổ để s dụng nổ mìn phá đá, do đó cũng cần x phạt các bị cáo hình phạt tương xứng. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đều thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Phan C đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính, theo Án lệ số 48/2021/AL ngày 25-11-2021 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao, thì đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình s và bị cáo có vợ cũng bị kết án trong vụ án này; ngoài ra, các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét x ph c th m chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo và áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình s để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

- Đối Trần Đình T:

Bị cáo mua trái phép vật liệu nổ để s dụng nổ mìn phá đá, nên cũng cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s như thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; mua vật liệu nổ với mục đích khai thác đá, kh ng có mục đích bán lại kiếm lời; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình và hiện đang bị bệnh viêm gan. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao s a đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao, thì bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình s . Vì vậy, để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, Hội đồng xét x ph c th m chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo.

Như vậy, kháng cáo của bị cáo Lê Huy H1 đã được Hội đồng xét x ph c th m xem xét và có cơ sở để chấp nhận; kháng cáo của các bị cáo Trần Đình T Phan C và Nguyễn Văn D cũng được Hội đồng xét x ph c th m xem xét và có cơ sở để chấp nhận một phần.

. Các quyết định khác của bản án sơ th m kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị Hội đồng xét x ph c th m kh ng xét.

. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên các bị cáo kh ng phải chịu án phí hình s ph c th m.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình s .

- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Huy H1.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D.

- S a Bản án hình s sơ th m số 28/2022/HS-ST ngày 26-5-2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định về Phần Trách nhiệm hình s đối với các bị cáo Lê Huy H1, Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D.

2. Về Trách nhiệm hình s :

2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình s , x phạt:

- Lê Huy H1 18 (mười tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 19-7-2021 đến ngày 15-11-2021).

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình s , x phạt:

- Phan C 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình s , x phạt:

- Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2.4. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình s , x phạt:

- Trần Đình T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian th thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án ph c th m.

Giao bị cáo Trần Đình T cho Ủy ban nhân dân xã Phước An, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian th thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư tr thì th c hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình s .

Trong thời gian th thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình s 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Các quyết định khác của bản án sơ th m kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí hình s ph c th m:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Các bị cáo Lê Văn H1, Trần Đình T, Phan C và Nguyễn Văn D kh ng phải chịu án phí hình s ph c th m.

5. Bản án ph c th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ