- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 383/2017/HNGĐ-ST Ngày: 21-12-2017 V/v tranh chấp về “Hôn nhân và Gia đình - Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Tám.
2. Ông Nguyễn Văn Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 297/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “Hôn nhân và Gia đình – Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Út, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Phú Mỹ Hạ, xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Trương Văn Găng, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Phú Bình, xã Phú An, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 10/8/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Phan Thị Út trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu nhau về tình cảm chị và anh Trương Văn Găng tiến tới hôn nhân vào năm 2005 nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống như vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, thường xuyên cự cãi nhau đến khoảng tháng 4 năm 2015 thì chị bỏ đi làm ăn xa từ đó chị không còn chung sống với anh Găng cho đến nay.
- Về con chung: Quá trình chung sống như vợ chồng chị và anh Găng có 01 đứa con chung tên Phan Thanh Thiên, sinh ngày 19/6/2007 hiện đang do chị nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Chị và anh Găng có tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận phân chia xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ phải thu, phải trả chung: Không có. Nay chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phú Tân giải quyết những vấn đề sau đây:
- Về hôn nhân: Được ly hôn với anh Trương Văn Găng.
- Về con chung: Được tiếp tục nuôi cháu Phan Thanh Thiên, sinh ngày 19/6/2007, không yêu cầu anh Găng phải cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn anh Trương Văn Găng trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau về tình cảm anh và chị Út chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2005 cho đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống như vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, thường xuyên cự cãi đến khoảng tháng 4 năm 2015 thì chị Út bỏ đi không còn chung sống với nhau cho đến nay.
- Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên Phan Thanh Thiên, sinh ngày 19/6/2007 hiện nay đang sống với chị Út.
- Về tài sản chung: Anh, chị có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận phân chia xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ phải thu, phải trả chung: Không có. Anh yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của Phan Thị Út.
- Về con chung: Đồng ý giao cháu Phan Thanh Thiên, sinh ngày 19/6/2007 cho chị Út tiếp tục nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Găng đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Tịnh vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Về quan hệ tranh chấp: Chị Út khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Găng nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Hôn nhân và Gia đình - Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về thẩm quyền giải quyết: Anh Găng với tư cách là bị đơn trong vụ kiện có nơi cư trú tại ấp Phú Bình, Phú An, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Anh Găng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự. [2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Út với anh Găng sau thời gian tìm hiểu nhau và trên cơ sở tự nguyện đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Xét thấy, anh, chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hội đồng xét xử nghĩ nên áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị Út và anh Găng là vợ chồng.
Về con chung: Chị Út, anh Găng có có 01 đứa con tên Phan Thanh Thiên, sinh ngày 19/6/2007 hiện đang do chị Út nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi anh chị không còn chung sống với nhau cho đến nay cháu Thiên đã sống chung với chị Út, dưới sự chăm sóc, giáo dục của chị, cháu đang sinh sống ổn định và phát triển bình thường, chị Út có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu nên yêu cầu của chị là phù hợp với nguyện vọng của cháu Thiên và phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên tiếp tục giao cháu Thiên cho chị Út nuôi dưỡng. Anh Găng được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Út không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có. [3] Về án phí: Chị Út phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016234 ngày 11/10/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Anh Găng không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 14; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: 1/. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Phan Thị Út và anh Trương Văn Găng là vợ chồng. 2/. Về con chung: Giao cháu Phan Thanh Thiên, sinh ngày 19/6/2007 cho chị Út tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Găng được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. 3/. Về án phí: Chị Út phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016234 ngày 11/10/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 7 ngày kể từ ngày tuyên án, do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Cơ quan Thi hành án huyện; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Nghĩa |