vanban.org

Bản án 382/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo ĐHS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: ĐHS 27 (hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu S1, có ghi hoàn trả 0,205 gam mẫu S1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu S1 vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Hồng Sơn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo ĐHS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 382/2022/HSST
Ngày 29/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

2. Ông Triệu Đức Tươi.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Chính, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 343/2022/HSST ngày 09/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 374/2022/QĐXXST-HS ngày 15/9/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐHS; sinh ngày 19 tháng 01 năm 1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm T, xã TĐ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể, chính quyền): Không; Con ông: Đinh Hồng P, đã chết; Con bà: Hoàng Thị Tquyết Lưu, sinh năm 1948; Gia đình có 04 anh chị em. Bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Tại Bản án số 10 ngày 13/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên xử phạt ĐHS 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 06/6/2021. Đã nộp số tiền truy thu và án phí ngày 22/9/2021.; Tiền sự: Không

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2022). (Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời làm chứng:

- Anh NXH, sinh năm 1972 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm N, xã QT, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Anh Đỗ Trường S, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm T, xã TĐ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Ngƣời chứng kiến: Anh TXV, sinh năm 1975 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 1, phường T, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 10 phút ngày 01/6/2022, tổ công tác của Công an phường T, thành phố Thái Nguyên đang tuần tra kiểm soát tại khu vực thuộc tổ 05 của phường thì phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20M3 - 4044 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là ĐHS và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ túi quần phía sau bên trái đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. S khai nhận đó là ma túy Heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác của công an phường T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S, thu giữ vật chứng theo quy định. Tạm giữ của S 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20M3 - 4044 (BL 28 - 29).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định: Toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của S có khối lượng là: 0,225 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng đưa vào bì niêm phong ký hiệu S1 gửi giám định (BL 33).

Tại Bản kết luận giám định số 778 ngày 09/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu S1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,225 gam (BL 35).

Tại cơ quan điều tra ĐHS khai nhận: Khoảng 9 giờ ngày 01/6/2022, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20M3 - 4044 đi từ nhà xuống khu vực phường T thành phố Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết tên K (không rõ lai lịch địa chỉ) được 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong, S cất gói ma túy trong túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà để sử dụng. Khi đi về đến khu vực tổ 5 phường T thì bị tổ công tác của công an phường T, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên, lời khai của S phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng tài liệu có trong hồ sơ.

Vật chứng: - 02 bì niêm phong ký hiệu S1, S2. Hiện được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, BKS: 20M3 - 4044, nhãn hiệu Yamaha, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên chị Lưu Thị H (sinh năm 1986, HKTT: phường Đ, thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên). Năm 2008 chị H đã bán chiếc xe này cho anh Đỗ Trường S (sinh năm 1987, HKTT: xã TĐ, thành phố Thái Nguyên). Tháng 3 năm 2021, anh S cho anh NXH (sinh năm 1972, HKTT: xã QT, thành phố Thái Nguyên) mượn chiếc xe mô tô để đi lại. Ngày 01/6/2022, ĐHS mượn xe mô tô này của anh H nói đi có việc riêng. Hiện đã trả lại xe mô tô cho anh Đỗ Trường S là chủ sở hữu, quản lý và sử dụng.

Bản cáo trạng số 325/CT-VKSNDTPTN ngày 05/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố ĐHS về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo ĐHS phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề Nghị xử phạt ĐHS mức án từ 24 đến 30 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội;

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ 10 phút ngày 01/6/2022, tại khu vực tổ 5, phường T, thành phố Thái Nguyên, ĐHS đã có hành vi tàng trữ 0,225 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường T thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,225 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c, Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ”.

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị xét xử bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2020 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt bị cáo S 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/6/2021. Do vậy lần phạm tội này vào ngày 01/6/2022 bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng tách nhiệm hình sự là "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 27 đến 30 tháng tù là phù hợp..

Vật chứng của vụ án: - Cần tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu S1, S2.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, BKS: 20M3 - 4044, nhãn hiệu Yamaha, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên chị Lưu Thị H. Năm 2008 chị H đã bán chiếc xe này cho anh Đỗ Trường S. Tháng 3 năm 2021, anh S cho anh NXH mượn chiếc xe mô tô để đi lại. Ngày 01/6/2022, ĐHS mượn xe mô tô này của anh H nói đi có việc riêng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh Đỗ Trường S là chủ sở hữu, quản lý và sử dụng.

Về các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, S khai mua của một người đàn ông tên K không rõ lai lịch, địa chỉ. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Đối với anh NXH là người cho S mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 20M3 - 4044, quá trình điều tra xác định anh H không biết S mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xem xét xử lý.

Về hình phạt bổ sung và án phí:

- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo ĐHS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điểm h, khoản 1, Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: ĐHS 27 (hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2022.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu S1, có ghi hoàn trả 0,205 gam mẫu S1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu S1 vụ ĐHS, sinh năm 1985 phạm tội về ma túy mặt sau có 03 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và 02 chữ ký của Vũ Quang H, Nguyễn Thành T.

- 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu S2, bì niêm phong ban đầu, mặt sau có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên và 06 chữ ký của Nguyễn Hữu H ..Trần Văn H.

Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng số 352 ngày 07/9/2022.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo ĐHS phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ