- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ sơ hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 144, Điều 147, khoản 3 Điều 208, khoản 2
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí Tòa án; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂ N DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 382/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29/07/2020 |
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con .
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂ N DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Đỗ Khắc Dương. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Nguyệt Ánh - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Quận 7. 2. Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Quận 7. - Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung là Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hạnh - Kiểm sát viên. Trong ngày 29 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 799/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2020 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Phan Minh T, sinh năm 1975. (Có mặt) Địa chỉ thường trú: đường D, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ tạm trú: đường B, phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982. (Vắng mặt) Địa chỉ: đường số D, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: - Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà H là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92, quyển số 01/2010 ngày 29/9/2010 của Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian chung sống, thời gian đầu vợ chồng yêu thương và quan tâm lo lắng cho nhau, cuộc sống chung của gia đình đầm ấm và hạnh phúc. Đến năm 2017 vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng không hiểu nhau,
bất đồng quan điểm sống, lối sống, vợ chồng không hòa hợp, không có sự quan tâm chia sẻ. Việc mâu thuẫn của vợ chồng ông đã làm ảnh hưởng đến tâm lý con, bản thân ông đã cố gắng chịu đựng để hàn gắn tình cảm vợ chồng và vì các con nhưng vợ ông không thay đổi làm cho cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và ông bà đã ly thân từ năm 2017. Do mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nhiều năm mà không hòa giải được và nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với bà H để ổn định cuộc sống. - Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Phan M, sinh ngày 21/4/2007, giới tính: Nam. Hiện con đang sống với ông, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung, nợ chung: Ông Tuấn xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T cam kết không còn tài liệu, chứng cứ nào để cung cấp cho Tòa án và cam kết chỉ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 7, không nộp đơn ly hôn tại Tòa án nào khác; việc ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ khác. 2. Bị đơn - bà H: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa. 3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về pháp luật tố tụng dân sự: [2] Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con đối với bà H; địa chỉ: đường số D, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét, quan hệ tranh chấp là tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. [4] Về pháp luật nội dung: [5] Xét yêu cầu của ông T về việc yêu cầu được ly hôn với bà H, Hội đồng xét xử nhận thấy: [6] Ông T và bà H là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92, quyển số 01/2010 ngày 29/9/2010 của Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng với quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [7] Theo ông T trình bày thì trong thời gian chung sống, thời gian đầu vợ chồng yêu thương và quan tâm lo lắng cho nhau, cuộc sống chung của gia đình đầm ấm và hạnh phúc. Từ năm 2017 vợ chồng ông thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, lối sống, vợ chồng không hòa hợp, không có sự quan tâm chia sẻ. Việc mâu thuẫn của vợ chồng ông đã làm ảnh hưởng đến tâm lý con, bản thân ông đã cố gắng chịu đựng để hàn gắn tình cảm vợ chồng và vì các con nhưng vợ ông không thay đổi làm cho cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và vợ chồng đã ly thân từ năm 2017. Do mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nhiều năm mà không hòa giải được, nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với bà H để ổn định cuộc sống. [8] Tòa án đã tiến hành xác minh đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Q, Quận G để tham khảo nhưng kết quả không thể hiện việc mâu thuẫn của vợ chồng ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để vợ chồng ông T hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng ông T cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà H để ổn định cuộc sống. [9] Đối với bà H, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ, nhưng bà không đến Tòa giải quyết vụ án, bà cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của ông T và không đưa ra giải pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, chứng tỏ bà cũng không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của ông T và không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ gia đình. [10] Như vậy, bà H đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì trình bày của ông T được thừa nhận mà không cần phải chứng minh. Xét thấy, hôn nhân giữa ông T và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [11] Xét yêu cầu của ông T về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung
tên Phan M, sinh ngày 21/4/2007, Hội đồng xét xử nhận thấy: [12] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì ông T và bà H có 01 con chung tên Phan M, sinh ngày 21/4/2007 theo Giấy khai sinh ngày 21/02/2012 của Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T trình bày hiện con chung đang sống cùng với ông, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. [13] Căn cứ vào khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của trẻ và trẻ đã trình bày từ nhỏ trẻ sống cùng với ba là ông T và nay có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với ba. [14] Xét thấy, ông T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung từ khi con nhỏ đến nay, chứng tỏ ông T có đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con, hơn nữa việc tiếp tục giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi là cần thiết đảm bảo ổn định tâm lý, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con, mặt khác bà H cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của ông T. Do đó, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của ông T sau khi ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận. [15] Về cấp dưỡng: Ông T tự nguyện không yêu cầu bà H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [16] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. [17] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. [18] Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí về tranh chấp hôn nhân và gia đình do nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 144, Điều 147, khoản 3 Điều 208, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T: 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông T được ly hôn với bà H. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92, quyển số 01/2010 ngày 29/9/2010 của Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh)
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Phan M, sinh ngày 21/4/2007 cho ông T được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn. Bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền, lợi ích hợp pháp của con, sau khi ly hôn các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng: Ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng. 1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do ông T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2018/0031893 ngày 03/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, TP. Hồ Chí Minh, như vậy ông T đã nộp đủ án phí sơ thẩm. 3. Về quyền kháng cáo: Ông T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Q. 7; - Chi cục Thi hành án dân sự Q. 7; - Ủy ban nhân dân phường Q, Quận - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ, (TK. Dung). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA G, TP. Hồ Chí Minh; Đỗ Khắc Dương |