vanban.org

Bản án 3800/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Đỗ Phi C.

Buộc ông Đỗ Phi C phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT số tiền: 6.599.886 đồng, bao gồm khoản vay hạn mức thẻ Visa Pay Wave Cre Classic số thẻ 472047-1042 với số tiền lãi quá hạn 1.464.558 đồng; Khoản nợ vay tiêu dùng Sacombank Pay số thẻ 356480-1518 số tiền nợ gốc 4.130.000 đồng và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Đỗ Phi C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3800/2023/DS-ST
Ngày: 20/9/2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lượng;

2. Ông Huỳnh Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 784/2023/DSST ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4602/2023/QĐST-DS ngày 31/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5627/2023/QĐST-DS ngày 29/8/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT.

Trụ sở: Lầu A Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp: Bùi Thị T, sinh năm 1986, theo giấy ủy quyền ngày 12/4/2023.

Địa chỉ: A Tỉnh lộ B, Khu phố C, phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Đỗ Phi C, sinh năm 1976

Địa chỉ: A Tỉnh lộ B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định: Ngày 26/04/2022, ông Đỗ Phi C có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Visa Pay Wave Cre Classic số thẻ 472047-1042 của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng và vay tiêu dùng trên ứng dụng Sacombank Pay với số tiền giải ngân 18.000.000 đồng.

Sau khi cấp thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền thẻ tín dụng là 22.156.000 đồng, đã thanh toán được 24.604.000 đồng nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 10/3/2023, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông C, tính đến ngày 20/9/2023, thẻ tín dụng ông C còn nợ 1.464.558 đồng tiền lãi quá hạn.

Đối với khoản vay tiêu dùng Sacombank Pay ông C được giải ngân số tiền 18.000.000 đồng, ông C đã thanh toán 16.132.000 đồng. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 25/3/2023, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông C, tính đến ngày 20/9/2023, ông C còn nợ 5.135.328 đồng gồm 4.130.000 đồng tiền gốc và 1.005.328 tiền lãi quá hạn.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh lý hợp đồng trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 20/9/2023 là 6.599.886 đồng, bao gồm nợ thẻ tín dụng Visa Pay Wave Cre Classic số thẻ 472047-1042 nợ lãi 1.464.558 đồng và nợ vay tiêu dùng Sacombank Pay số thẻ 356480-1518 số tiền nợ gốc 4.130.000 đồng và lãi 1.005.328 đồng.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn cố tình vắng mặt không đến tòa để làm việc, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tụng tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT với ông Đỗ Phi C phát sinh từ quan hệ hợp đồng dân sự về vay tài sản thuộc trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung: Xét về hình thức Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2022 giữa Ngân hàng Sài Gòn TT và ông C được lập bằng văn bản và xác lập hoàn toàn tự nguyện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo nội dung hợp đồng, ông C được cấp hạn mức thẻ Visa Pay Wave Cre Classic số thẻ 472047-1042 với số tiền 30.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng và áp dụng chính sách lãi theo dạng thẻ tín dụng ở từng giai đoạn. Sau khi cấp thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện nhiều giao dịch với số tiền 22.156.000 đồng, đã thanh toán được 24.604.000 đồng nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 10/3/2023, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông C, tính đến ngày 20/9/2023, thẻ tín dụng ông C còn nợ 1.464.558 đồng tiền lãi quá hạn (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Đối với khoản vay tiêu dùng Sacombank Pay ông C được giải ngân số tiền 18.000.000 đồng, ông C đã thanh toán 16.132.000 đồng. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 25/3/2023, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông C, tính đến ngày 20/9/2023, ông C còn nợ 5.135.328 đồng gồm 4.130.000 đồng tiền gốc và 1.005.328 tiền lãi quá hạn

Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vốn và lãi nên ông C phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 20/9/2023 là 6.599.886 đồng, bao gồm nợ thẻ tín dụng Visa Pay Wave Cre Classic số thẻ 472047-1042 nợ lãi 1.464.558 đồng và nợ vay tiêu dùng Sacombank Pay số thẻ 356480-1518 số tiền nợ gốc 4.130.000 đồng và lãi 1.005.328 đồng. Tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 20/9/2023 cho đến khi tất toán xong khoản nợ vay. Lãi suất tiêu dùng áp dụng đối với thẻ tín dụng hai bên thỏa thuận là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Do bị đơn không đến Tòa án tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không gửi văn bản hay giao nộp tài liệu chứng cứ liên quan đến giao dịch vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để xác định bị đơn có vay tiền và đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật phí và lệ phí;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Đỗ Phi C.

Buộc ông Đỗ Phi C phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT số tiền: 6.599.886 đồng, bao gồm khoản vay hạn mức thẻ Visa Pay Wave Cre Classic số thẻ 472047-1042 với số tiền lãi quá hạn 1.464.558 đồng; Khoản nợ vay tiêu dùng Sacombank Pay số thẻ 356480-1518 số tiền nợ gốc 4.130.000 đồng và lãi quá hạn 1.005.328 đồng.

Kể từ ngày 21/9/2023, ông Đỗ Phi C còn phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT tiền lãi quá hạn phát sinh trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 329.994 đồng buộc ông Đỗ Phi C chịu. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn TT được nhận lại tiền tạm ứng án phí 521.977 đồng, theo biên lai số 0003356 ngày 16/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ