- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Uông Thị Lan H - Tran H A (Trần A H)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Uông Thị Lan H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 380/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2020 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nở
2. Bà Lê Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2019/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 325/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1524/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Uông Thị Lan H, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: Phường 11, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Tran H A (Trần A H), sinh năm 1973 (vắng mặt).
Quốc tịch: Hoa Kỳ.
Địa chỉ: 124 San Jose CA 95111, USA.
Bà Uông Thị Lan H đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19/3/2019 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Uông Thị Lan H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Tran H A (Trần A H) quen biết và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 600, Quyển số 03 ngày 10/3/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết được. Bà nhận thấy ông H là người chồng không có trách nhiệm với vợ con, không có chính kiến và sống phụ thuộc gia đình chồng. Ông H không yêu thương, quan tâm, chăm sóc cho bà và con chung. Bà xác định hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và để ổn định cuộc sống, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tran H A (Trần A H).
Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Trần Gia H, sinh ngày 14/5/2015. Hiện trẻ H đang sống với bà, nếu được ly hôn bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ H và không yêu cầu ông Hùng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Vì bận việc, bà đề nghị được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Bị đơn là ông Tran H A (Trần A H), trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ: Tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày, giờ và địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông H có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo văn bản ủy thác tư pháp số 251/TTTPDS-TA30 ngày 14/5/2019). Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có văn bản đề nghị Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ thực hiện các công việc cần thiết để thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên bằng phương thức chuyển cho người sống chung cùng đương sự. Nhưng đến nay, ông H vẫn không có văn bản phản hồi cho Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét yêu cầu của nguyên đơn là bà Uông Thị Lan H, Hội đồng xét xử nhận thấy bà H và ông Tran H A (Trần A H) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy, căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn là ông Tran H A (Trần A H) hiện cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai; thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu của bà Uông Thị Lan H yêu cầu ly hôn ông Tran H A (Trần A H), Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà H (bà H cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì bà và ông H chung sống không hạnh phúc. Trong thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết được, ông H không quan tâm, chăm sóc gia đình. Do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà H và ông H đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn với ông H là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Trần Gia H, sinh ngày 14/5/2015. Hiện bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ H cho đến khi trẻ thành niên, không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ H đã chung sống với mẹ từ khi sinh ra cho đến nay và bà H khẳng định mình đủ khả năng kinh tế để nuôi con, không yêu cầu ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng. Do đó, giao cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ H cho đến khi trẻ thành niên. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Tran H A (Trần A H) cho đến khi bà H có yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà H ly hôn với ông H và đề nghị giao trẻ Trần Gia H cho bà Htrực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Uông Thị Lan H khai không có, Tòa án không xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Uông Thị Lan H chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Uông Thị Lan H.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Uông Thị Lan H được ly hôn với ông Tran H A (Trần A H).
Giấy chứng nhận kết hôn số 600, Quyển số 03 ngày 10/3/2015 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Uông Thị Lan H và ông Tran H A (Trần A H) không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 14/5/2015 cho bà Uông Thị Lan H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trẻ thành niên.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Tran H A (Trần A H) cho đến khi bà Hcó yêu cầu.
Ông Tran H A (Trần A H) có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông H nếu ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em hoặc Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Uông Thị Lan H khai không có, Tòa không xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Uông Thị Lan H chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0015143 ngày 29/3/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.
3. Thi hành án tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bà Uông Thị Lan H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Tran H A (Trần A H) được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Cao |