vanban.org

Bản án 380/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA số tiền nợ theo Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ĐA Bank ngày 27/10/2008 tổng cộng là 225.964.320 đồng, trong đó nợ gốc: 27.041.795 đồng, nợ lãi và phí dịch vụ sử dụng thẻ là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hành ĐA-Nguyễn văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 380/2017/DS-ST
Ngày: 28-9-2017
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

2. Ông Trần Phú Nhuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2017/TLST-DSST ngày 28 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2017/QĐST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 178/2017/QĐST- DS ngày 12 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA.

Địa chỉ: 130 Phan Đăng Lưu, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Minh K – Nhân viên Chi nhánh Quận 5(có mặt).

(Theo Quyết định ủy quyền thường xuyên số 36/QĐ-ĐAB-Q5 ngày 21/6/2017 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T (vắng mặt).

Địa chỉ: 352/8M Lê Hồng Phong, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2017 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA có Ông K đại diện trình bày: ngày 27/10/2008 Ông Nguyễn Văn T có ký Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ĐA Bank (sau dây gọi tắt là Hợp đồng) với Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA (sau đây gọi tắt là ngân hàng ĐA). Căn cứ vào thu nhập của ông T ngân hàng cấp hạn mức tín dụng thẻ cho ông T là 70.000.000 đồng. Ngày 27/11/2008 ông T thực hiện giao dịch trên tài khỏan số thẻ xxxxxxxxxx cũng như trả lãi, các loại phí phát sinh theo đúng thỏa thuận với ngân hàng cho đến hết ngày 15/4/2011. Căn cứ tại khoản 8.1 Điều 8, khoản 9.6 Điều 9 của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thì ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển tòan bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngày 09/5/2017 ngân hàng nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông T trả nợ gốc là 27.041.795 đồng, lãi và phí là 178.904.845 đồng.

Bị đơn ông T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng nên không có lời khai.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA yêu cầu ông T phải thanh toán số tiền nợ gốc và tiền lãi, phí tính đến ngày 28/9/2017 là 225.964.320 đồng. Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 29/9/2017 cho đến khi Ông T thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Văn T ký Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ĐA Bank của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA. Do ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T trả tiền vay còn thiếu, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “tranh chấp về hợp vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: do bị đơn Ông Nguyễn Văn T cư trú tại Quận 10, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tư cách tham gia tố tụng: xét văn bản ủy quyền số 36/QĐ-ĐAB-Q5 ngày 21/6/2017 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA là ủy quyền hợp lệ, nên Ông Bùi Minh K có đủ tư cách đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.

Xét bị đơn Ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ĐA Bank thì Ông Nguyễn Văn T cam kết sử dụng thẻ theo đúng quy định của pháp luật và hợp đồng với Ngân hàng, chịu mọi trách nhiệm đối với những nghĩa vụ và trách nhiệm có liên quan đến việc sử dụng thẻ được Ngân hàng cấp. Theo đó ông T phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ gốc và các khoản lãi, phí nếu không thanh toán đúng hạn cho Ngân hàng.

Tại các bản sao kê hoạt động của khách hàng do Ngân hàng cung cấp, thể hiện ông T đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính từ ngày 15/12/2008 đến ngày 15/4/2011 gồm tiền gốc, tiền lãi, và tiền phí theo quy định sử dụng thẻ. Từ tháng 5/2011, ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết nên ngân hàng đã tiến hành gửi thông báo nhắc nợ do đó có cơ sở xác định ông T còn nợ ngân hàng số tiền gốc là 27.041.795 đồng.

Xét yêu cầu tính lãi và các khoản phí sử dụng thẻ của nguyên đơn:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên Ngân hàng ĐA là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật. Mặc khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Căn cứ tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ĐA Bank và Thông báo số 02/TB-TTKDTCCN ngày 04/11/2008 của Ngân hàng ĐA thì lãi suất phát sinh dư nợ của chủ thẻ tín dụng Visa là 1.5%/tháng. Căn cứ vào khoản 4.3 Điều 4 về phí dịch vụ mà chủ thẻ đăng ký sử dụng và khoản 7.2 Điều 7 thì ngân hàng sẽ tính chậm thanh toán theo Biểu phí dịch vụ thẻ tín dụng . Xét thấy đến kỳ hạn trả nợ, phía bị đơn không trả được nợ nên nguyên đơn yêu cầu chuyển toàn bộ dư nợ hiện có của hợp đồng sang nợ quá hạn là phù hợp với quy định về chuyển nợ quá hạn tại Điều 8 của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2008. Từ những cơ sở trên chấp nhận yêu cầu tiền lãi và phí sử dụng thẻ của nguyên đơn đối với bị đơn, buộc bị đơn ông T hoàn trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 28/9/2017 là 43.707.012 đồng và dư nợ phí sử dụng thẻ là 155.215.513 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm

2010;

Căn cứ vào Điều 463 , Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA số tiền nợ theo Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ĐA Bank ngày 27/10/2008 tổng cộng là 225.964.320 đồng, trong đó nợ gốc: 27.041.795 đồng, nợ lãi và phí dịch vụ sử dụng thẻ là 198.922.525 đồng.

Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 29/9/2017 cho đến khi ông T thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ĐA Bank ngày 27/10/2008 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA.

Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Án phí dân sự sơ thẩm là 11.298.216 đồng, Ông Nguyễn Văn T phải chịu.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.148.666 đồng, theo biên lai thu tiền số 0001507 ngày 27/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết./.

Cỡ chữ