vanban.org

Bản án 38/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xö ph¹t bÞ c¸o Nguyễn Việt H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ 15/12/2025. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VIỆT H - TTTP CHẤT MT - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 38/2026/HSST
Ngày 16 tháng 4 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu và bà Nguyễn Thị Phương Thiệu

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N tham gia phiên toà: Ông Trương Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2026/HSST ngày 26/03/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 04 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Việt H (Tên gọi khác không), sinh năm 2005; tại xã Đại Hoàng, tØnh Ninh B×nh; Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, tØnh N; số Căn cước công dân 03720****; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành N vµ bµ Hà Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 63/QĐ-XPHC ngày 18/02/2020, Công an huyện V, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt Cảnh cáo về hành vi "Đánh bạc". Bản án Hình sự sơ thẩm số 51/2021/HSST ngày 16/9/2021, của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Bản án Hình sự phúc thẩm số 03/2021/HS-PT ngày 13/01/2023, của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 21 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/12/2025, chuyển tạm giam ngày 24/12/2025 tíi nay, tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng: Ông Lương Tất Dung, ông Vũ Đức Nghinh (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 15/12/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Nguyễn Việt H mang theo số tiền 500.000 đồng rồi đi bộ từ nhà ở thôn P, xã Đ ra đường ĐT477 thì gặp và đi nhờ xe mô tô của 01 người đi đường không quen biết đến khu vực bến xe khách N. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày khi đến nơi, H thấy một người đàn ông (H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) đang đứng tại khu vực sát tường bao của bến xe. H tiến lại gần nói: “Để cho em năm trăm”. Sau đó, H lấy trong túi quần phía trước bên trái ra số tiền 500.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cần tiền H đưa rồi nói với H: “Đứng đây chờ tí”. Người đàn ông đi bộ vào khu vực ngõ nhỏ cạnh bến xe. Khoảng 05 phút sau, người đàn ông quay lại, dùng tay phải đưa cho H 01 túi nilon màu đen, kích thước khoảng (2,5 x 3)cm. H mở túi ra kiểm tra thấy bên trong túi có chất tinh thể màu trắng, xác định đúng là ma túy đá nên kẹp gói ma túy vào ngón giữa và ngón trỏ bàn tay trái rồi đi bộ ra đường đi nhờ xe mô tô của người đi đường không quen biết về đến khu vực đường rẽ vào thôn Đ, xã G. H xuống xe và tiếp tục đi bộ để về nhà.

Hồi 19 giờ 00 phút cùng ngày, H đang đi bộ thì thấy Tổ công tác của Công an xã G yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi cất giấu trái phép ma túy nên H đã tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác 01 (một) túi nilon màu đen đang kẹp giữa ngón trỏ và ngón giữa bàn tay trái và khai nhận bên trong túi nilon có ma tuý đá, H mua về để sử dụng. Tổ công tác kiểm tra túi nilon màu đen, phát hiện bên trong túi có chất tinh thể màu trắng, tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong đối với 01 (một) túi nilon màu đen, kích thước (2,5x3) cm bên trong có chất tinh thể màu trắng của Nguyễn Việt H vào 01 (một) phong bì dán kín, ký hiệu QTH theo quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng của 01 gói ma túy thu giữ của H là 0,5535 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M, để gửi đi giám định chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 12/KT-KTHS ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nkết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,5535 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine

Methamphetamine là chất ma túy có số thứ tự 247, thuộc bảng Danh mục IIC; Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Mẫu hý hiệu M còn lại có khối lượng 0,4816gam, là ma túy, loại Methamphetamine”

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSKV3 ngày 25/03/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N đã truy tố Nguyễn Việt H ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nđể xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2025.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng còn lại của Nguyễn Việt H. Bên trong 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu ký hiệu QTH; 01 vỏ túi nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong ghi số 12/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả M=0,4816 gam, là ma túy, loại Methamphemtamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Ni, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Việt H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 15/12/2025, tại khu vực đường 477 thuộc địa phận thôn Đường 477, xã G, tỉnh N, bị cáo Nguyễn Việt H có hành vi tàng trữ trái phép 0,5535 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a, ……..;

b, ……..;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

. Hành vi của bị cáo Nguyễn Việt H đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, có thể là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của nòi giống, làm khánh kiệt kinh tế của người sử dụng chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Việt H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo có ông nội là người đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và bà nội là người có công với nước. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Việt H là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi từng bị kết án, nên được coi là không có án tích theo quy định tại Điều 127 Luật Tư pháp người chưa thành niên và từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên sáu tháng, nên được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 137 Luật xử lý vi phạm hành chính.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

. VÒ h×nh ph¹t bæ sung: Xét bị cáo Nguyễn Việt H là người sử dụng ma túy, tàng trữ trái phép chất ma tóy nhằm mục đích sử dụng, không mang tính vụ lợi, không có tài sản gì có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ xung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng còn lại của Nguyễn Việt H. Bên trong 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu ký hiệu QTH; 01 vỏ túi nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong ghi số 12/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả M=0,4816 gam, là ma túy, loại Methamphemtamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Nguyễn Việt H. Quá trình điều tra, H khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Bến xe khách N, xã Nho Q, tỉnh N, H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này. Do vậy không có căn cứ điều tra xác minh làm rõ hành vi của người đã bán ma túy cho H.

VÒ ¸n phÝ: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm pheo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xö ph¹t bÞ c¸o Nguyễn Việt H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ 15/12/2025.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng còn lại của Nguyễn Việt H. Bên trong 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu ký hiệu QTH; 01 vỏ túi nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong ghi số 12/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả M=0,4816 gam, là ma túy, loại Methamphemtamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.(Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/03/2026, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – N).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Việt H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ