- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Tuyến - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2026/HSST Ngày 13/5/2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vũ Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Thân và bà La Thị Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Dương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Bế Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2026/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Đinh Văn T, sinh ngày 17/02/1977 tại P, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Xóm N, xã P, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 004077000556, do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C cấp ngày 16/4/2021; Con ông Đinh Văn Đ (đã chết) và bà Sầm Thị T1, sinh năm 1937; có vợ: Nông Thị P, sinh năm: 1984, con: có 01 con sinh năm 2007; anh, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 04 anh em; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2026 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bế Ích K - sinh năm 1987. Trú tại: Xóm N, xã Đ, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 10 phút, ngày 27/11/2025, Công an xã Đ, tỉnh Cao Bằng tiếp nhận tin báo về việc: Khoảng 16 giờ cùng ngày tại Km7 tỉnh lộ 207 thuộc địa phận xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô BKS 98C-315.00 do Đinh Văn T, sinh năm 1977, trú tại: N, xã P, tỉnh Cao Bằng điều khiển đang lưu thông theo hướng xã Đ đi xã H va chạm với xe mô tô BKS 11U1-020.73 do Bế Ích K, sinh năm 1977, trú tại: N, xã Đ, tỉnh Cao Bằng điều khiển từ đường T ra ngã ba tỉnh lộ 207. Hậu quả: Bế Ích K bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh C.
Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C phối hợp cùng các cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, khám nghiệm phương tiện, xem xét dấu vết còn để lại trên phương tiện có liên quan xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường rải nhựa áp phan. Xác định hướng khám nghiệm theo hướng xã Đ đi xã H, lấy cột mốc Km7DT207 làm mốc hiện trường, ký hiệu A, lấy mép đường bên phải làm chuẩn. Lòng đường rộng 6,3m; lề phải rộng 0,5m; lề trái rộng 0,3m. Tại địa điểm xảy ra tai nạn có điểm giao nhau với đường liên xóm N và có biển cảnh báo đi chậm ở bên phải đường theo hướng khám nghiệm. Kết quả khám nghiệm:
- Xe ô tô BKS 98C-315.00 nằm trên phần đường bên trái, đầu xe hướng xã H, đuôi xe hướng xã Đ. Trục sau bên phải xe ô tô cách mép phải 3,5m, trục trước bên phải ô tô cách mép phải 4,5m.
- Xe mô tô BKS 11U1-020.73 nằm ở phần đường bên trái, xe nằm ngang đường. Đầu xe hướng lề đường bên trái, đuôi xe hướng lề đường bên phải, xe đổ nghiêng bên phải. Trục sau bên phải xe mô tô cách mép phải là 5,15m; Trục sau bên trái xe mô tô cách mép phải 6,35m.
Quá trình điều tra xác định như sau: Ngày 26/11/2025, anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987, trú tại: A, xã V, thành phố Hải Phòng ký hợp đồng thuê Đinh Văn T làm lái xe để chở hàng hóa. Theo hợp đồng, chiều ngày 27/11/2025, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-315.00 đến bãi vật liệu của Công ty B để chở đá loại 01x02 đến khu vực xóm H. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi T đang điều khiển xe lưu thông theo hướng xã Đ đi xã H, đến đoạn Km7, tỉnh lộ 207 thuộc xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng thì gặp xe mô tô 11U1-020.73 do Bế Ích K điều khiển từ đường liên xóm ra đi ra đường chính. Do bị bất ngờ, không làm chủ được tốc độ nên T điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi để tránh nhưng vẫn xảy ra va chạm với xe mô tô do Bế Ích K điều khiển. Hậu quả: Bế Ích K bị thương nặng đưa đi cấp cứu tại Bênh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng.
Ngày 15/12/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C trưng cầu giám định phương tiện ô tô nhãn hiệu DONGFENG, loại xe tải tự đổ, màu sơn vàng, biển kiểm soát 98C-315.00. Tại bản kết luận giám định ngày 20/12/2025 của Sở xây dựng tỉnh C kết luận: Tại thời điểm kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát 98C-315.00 đạt tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật theo quy định.
Ngày 06/01/2026 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bế Ích K. Tại Bản kết luận giám định số 002/26/KLTTCT-TTPY ngày 14/01/2026 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận:
1. Các kết quả chính
* Kết quả khám giám định:
- Vết sẹo vùng mép môi dưới bên phải, kích thước nhỏ: 03%.
- 02(Hai) vết sẹo dưới hõm nách bên phải và bên trái, kích thước nhỏ: 02%.
- Các đám sây sát da vùng góc dưới hàm bên phải, mép môi dưới bên phải, đầu gối bên trái và đám bầm tím vùng lưng bên trái thuộc loại tổn thương trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y có trong quy định đánh giá tỷ lệ tổn thương.
* Kết quả cận lâm sàng:
- Ô tổn thương não cũ nhu mô thùy trán phải và trán bên trái: 31%.
- Chấn đông nào điều trị ổn định: 01%.
- Vỡ xương chẩm bên phải: 18%.
- Tụ máu dưới màng cứng thùy chẩm bên trái đã điều trị còn ổ dịch, không có di chứng thần kinh: 16%.
- Đụng dập nhu mô phổi bên trái: 08%.
- Gãy xương sườn 1,2,3,4,5,6,7 bên phải, không di lệch: 14%.
- Gãy xương sườn 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11 bên trái, có di lệch: 22%.
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bế Ích K tại thời điểm giám định là: 72%.
Như vậy, hành vi điều khiển xe ô tô tham giao giao thông đi không đúng phần đường theo quy định gây tai nạn giao thông của Đinh Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 10 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Hành vi của T là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn. Ngoài ra, hành vi điều khiển xe khi trong máu có nồng độ cồn là 0.056mg/L, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông của Bế Ích K cũng vi phạm điểm a, khoản 6, điểm h khoản 2 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ và cũng là nguyên nhân gây ra tai nạn.
Quá trình điều tra bị can Đinh Văn T đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai bị can hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được cơ quan điều tra thu thập. Sau khi xảy ra tai nạn, ngày 12/12/2025 Đinh Văn T đã đến hỏi thăm và tự nguyện khắc phục hậu quả cho Bế Ích K với số tiền 40.000.000 đồng vợ.
Các đồ vật, tài sản đã thu giữ, tạm giữ gồm: 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, tên Đinh Văn T, số 990165101981.
Đối với xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát 98C-315.00, quá trình xác minh xác định được anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975, trú tại: H, V, L, Bắc Giang là chủ sở hữu chiếc xe nói trên. Từ ngày 02/11/2025 đến 02/01/2026 anh T2 cho Nguyễn Văn M thuê nên ngày 31/12/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C trả lại xe ô tô cho Nguyễn Văn M là người quản lý hợp pháp theo hợp đồng là đúng quy định.
Bản cáo trạng số 10/CT-VKSKV2 ngày 01/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị hại Bế Ích K đã được bồi thường 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) và sẽ không yêu cầu bồi thường thêm bất kỳ khoản nào. Đồng thời bị hại cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đinh Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt đối với bị cáo Đinh Văn T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
Về vật chứng của vụ án:
Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, tên Đinh Văn T, số 990165101981.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo không nói gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Đinh Văn T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của bị cáo, lời khai người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; biên bản thực nghiệm điều tra và kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chứng minh: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27/11/2025, Đinh Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 98C- 315.00 chở vật liệu xây dựng từ Công ty B đến khu vực xóm H – Bản Vươn, đến đoạn đường km7, tỉnh lộ 207 thuộc địa phận xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng thì gặp xe mô tô BKS: 11U1 – 020.73 do Bế Ích K điều khiển từ đường liên xoám đi ra đường chính. Do bị bất ngờ, không làm chủ được tốc độ nên T điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái và va chạm với mô tô do Bế Ích K điều khiển. Do T điều khiển xe ô tô không tuân thủ các quy định về giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, đi không đúng phần đường quy định, vi phạm quy định an toàn về giao thông đường bộ theo khoản 23 Điều 8 “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định …” nên đã gây tai nạn làm ông K bị thương nặng với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 72% (bảy mươi hai phần trăm). Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Đinh Văn T phạm tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 10/CT-VKSKV2 ngày 01/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vô ý gây thiệt hại đến sức khoẻ của người khác, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe theo quy định nhưng khi tham gia giao thông đã không tuân thủ đúng quy định dẫn đến hậu quả bị hại ông Bế Ích K bị thương tích với tổng tỷ lệ thương tật là 72%. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà mình đã gây ra. Tuy nhiên HĐXX vẫn xem xét cho hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát một phần do lỗi của bị hại.
. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã kịp thời bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả với số tiền 40.000.000 đồng cho gia đình bị hại; Tại phiên tòa bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Tình tiết tăng nặng: Không có.
. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, có nghề nghiệp lái xe. Xét thấy, đây là tội thuộc nhóm tội vi phạm an toàn trật tự công cộng, lỗi vô ý. Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn đảm bảo sự răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt cần xem xét kỹ lưỡng vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo sớm sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, tu dưỡng thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã thống nhất thỏa thuận bồi thường 40.000.000đ là số tiền bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, đã bồi thường xong, tại phiên tòa bị hại Bế Ích K không đề nghị bị cáo T bồi thường thêm cho bị hại. Xét thấy, sự thỏa thuận này là tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận trong bản án.
. Việc xử lý vật chứng:
Xét vật chứng là 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, tên Đinh Văn T, số 990165101981. Bị cáo T có nghề nghiệp là lái xe nên xét thấy cần tuyên trả cho bị cáo. Đối với chiếc xe ô tô bị cáo điều khiển gây tai nạn trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên HĐXX không xem xét.
. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - tỉnh Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 13/5/2026. Giao bị cáo Đinh Văn T cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với số tiền 40.000.000đ, bị hại không yêu cầu gì thêm.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại chi bị cáo Đinh Văn T 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, tên Đinh Văn T, số 990165101981.
(Xác nhận vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 37 ngày 02 tháng 4 năm 2026).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Cao Bằng; - VKSND khu vực 2; - CSĐT Công an tỉnh; - Phòng THADS khu vực 2; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ La Thị Phƣơng Lý Văn Thân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Vũ Hoàng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Vũ Hoàng |