- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức P - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2026/HSST Ngày 10 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu
Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Hương và bà Lê Thị Hoà
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuý, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Tạ Việt Hùng, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2026/ QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026, đối với:
Bị cáo Nguyễn Đức P, sinh ngày: 10/02/1985; nơi cư trú: thôn Y, xã V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức C và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị H, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt.
Bị hại: Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1960; trú tại: thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, đã chết.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Cụ Lê Thị P1, sinh năm 1934; bà Lê Thị T, sinh năm 1963; chị Lê Thị T1, sinh năm 1984; chị Lê Thị N, sinh năm 1990; chị Lê Thị P2, sinh năm 1991 (là mẹ, vợ và các con ông Đ); người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại: Ông Lê Minh T2, sinh năm 1969; trú tại: thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/10/2025, Nguyễn Đức P có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 260097262983 do Sở giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 06/8/2018, còn giá trị đến ngày 06/8/2028, trong cơ thể không có nồng độ cồn, không có chất ma tuý điều khiển xe ô tô Kia Cerato, biển kiểm soát 88A-358.20 từ nhà đi đến xã V, tỉnh Phú Thọ. Đến khoảng 8 giờ 40 phút cùng ngày, P điều khiển xe ô tô di chuyển trên đường liên xã (là đường ưu tiên) theo hướng xã V đi xã V với tốc độ khoảng 40km/h đến khu vực đường giao nhau với đường liên thôn Đ (là đường không ưu tiên) thuộc địa phận Đan Thượng, xã V, tỉnh Phú Thọ. Do sử dụng điện thoại di động trong quá trình điều khiển xe dẫn đến không chú ý quan sát, không cho xe giảm tốc độ khi qua nơi đường bộ giao nhau nên phần đầu giữa xe ô tô do P điều khiển đã đâm vào phần đuôi xe mô tô biển kiểm soát 88S6 - 0011 do ông Lê Minh Đ, có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển di chuyển theo hướng từ đường liên thôn Đ rẽ trái ra đường liên xã V gây tai nạn giao thông làm ông Đ bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, Bệnh viện H1 đến ngày 27/10/2025 tử vong, xe ô tô biển kiểm soát 88A-358.20, xe mô tô biển kiểm soát 88S6-0011 bị hư hỏng.
Sau khi tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan và các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra đã thu giữ xe ô tô biển kiểm soát 88A-358.20; 01 xe mô tô biển kiểm soát 88S6-0011; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 260097262983 do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp cho Nguyễn Đức P, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 017403 do Phòng C1 Công an tỉnh V cấp ngày 28/02/2022; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới số VA 2561781 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 88-03D cấp ngày 01/10/2025; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô và bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số OB25/0184975 do Công ty cổ phần T3 chi nhánh V cấp ngày 01/10/2025; 01 Giấy phép lái xe AX 826976 hạng A1 của Lê Minh Đ do Sở G cấp ngày 14/12/2012; 01 Đăng ký mô tô, xe máy số 012434 do Phòng C1 Công an tỉnh V cấp ngày 03/12/2007; mẫu chất màu đỏ tại hiện trường, mẫu tạp chất màu trắng tại ốp nhựa bảo vệ đèn xi nhan và đèn chiếu hậu phía sau xe mô tô 88S6- 0011; mẫu sơn màu trắng thu giữ tại nắp capô xe ô tô biển kiểm soát 88A-358.20; mẫu máu trong cơ thể của Lê Minh Đ, Nguyễn Đức P, 01 đoạn video ghi hình lại sự việc trích xuất từ hệ thống camera an ninh của Công an xã V. Các đồ vật, phương tiện nêu trên được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 25/KLGĐTT- PYPT ngày 07/11/2025, Trung tâm pháp y tỉnh P, kết luận: “- Các kết quả chính:
+ Nhiều vết bầm tím và sây sát da, nhiều vết mổ. Lỗ khuyết xương sọ, đấy phập phồng.
+ Chấn thương sọ não nặng: Tổ chức não hoại tử đùn đẩy ra ngoài. Bên ngoài có 02 mảnh xương sọ kích thước lớn.
- Kết luận:
+ Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng sau điều trị không phục hồi.
+ Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày và vật tày có cạnh gây nên.
+ Kết luận khác: Không./.”.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 24/10/2025; bệnh nhân Lê Minh Đ, thể hiện: Định lượng Ethanol (cồn) Máu: < 3.0mg/100mL (dưới mức cồn tự nhiên trong cơ thể).
Tại bản Kết luận giám định số 3210/KL- KTHS ngày 09/11/2025, phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphin, Heroine, M, MDMA, Ketamine, 2 C-B và TFMPP) trong mẫu máu thu của Lê Minh Đ gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 3125/KL- KTHS ngày 05/11/2025, phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Không phát hiện thấy có cồn (E) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được xác định là mẫu máu thu của Nguyễn Đức P gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 3126/KL- KTHS ngày 05/11/2025, phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphin, Heroine, M, MDMA, Ketamine, 2 C-B và TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được xác định là mẫu máu thu của Nguyễn Đức P gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 3574/KL- KTHS ngày 30/11/2025, phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Trích xuất được 10 ảnh diễn biến từ tệp video gửi giám định, toàn bộ ảnh được in thành văn bản. Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục giám định gồm 06 trang A4 có chữ ký của giám định viên.
Tại bản Kết luận giám định số 3457/KLGĐ- KTHS ngày 22/11/2025, phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Mẫu chất màu trắng được cơ quan trưng cầu xác định thu tại ốp nhựa bảo vệ đèn xi nhan, đèn chiếu hậu phía sau của xe mô tô BKS: 88S6- 0011 (mẫu ký hiệu A1) gửi giám định cùng loại với mẫu sơn màu trắng được xác định thu tại nắp capô xe ô tô BKS: 88A- 358.20 (mẫu ký hiệu M1) gửi làm mẫu so sánh.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 645/KL-HĐĐGTTHS và số 642/KL-HĐĐGTTHS cùng ngày 25/4/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã V, kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 88A- 358.20 bị thiệt hại 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Xe mô tô biển kiểm soát 88S6 - 0011 bị thiệt hại 1.120.000 đồng (Một triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã thông báo các bản kết luận giám định nêu trên cho Nguyễn Đức P và đại diện gia đình bị hại biết nhưng không ai có thắc mắc gì. Tại Cáo trạng số: 63/CT-VKSYL ngày 27 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ đã truy tố Nguyễn Đức P, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Nguyễn Đức P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự, xử phạt: Nguyễn Đức P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm đến 03 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không áp dụng hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng và tính án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện như nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/10/2025, Nguyễn Đức P điều khiển xe ô tô Kia Cerato, biển kiểm soát 88A- 358.20 với tốc độ khoảng 40km/h lưu thông trên đường liên xã V (đường ưu tiên) theo hướng xã V đi xã V Khi đến ngã ba giao nhau với đường liên thôn Đ (đường không ưu tiên) thuộc địa phận thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ. Do do sử dụng điện thoại di động trong khi điều khiển xe, không chú ý quan sát, không cho xe giảm tốc độ khi qua nơi đường bộ giao nhau nên phần đầu giữa xe ô tô do P điều khiển đã đâm va vào phía sau xe mô tô biển kiểm soát 88S6- 0011 do ông Lê Minh Đ điều khiển theo hướng từ đường liên thôn Đ rẽ trái ra đường liên xã V làm ông Đ tử vong; xe ô tô biển kiểm soát 88A- 358.20 bị thiệt hại 4.400.000 đồng, xe mô tô biển kiểm soát 88S6 - 0011 bị thiệt hại 1.120.000 đồng.
. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, khám nghiệm tử thi cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 6 Điều 9; điểm d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ; điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Khoản 6 Điều 9 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ quy định:
“Các hành vi bị nghiêm cấm:
6. Dùng tay cầm và sử dụng điện thoại … khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đang di chuyển trên đường bộ....”.
Điểm d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy
định:
“Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp sau đây;
…
d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ….”
Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người…”;
Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác. Trong thời gian qua tình hình tai nạn giao thông vẫn có chiều hướng gia tăng mặc dù Nhà nước ta đã đề ra nhiều biện pháp nhằm khắc phục nhưng chưa có chiều hướng thuyên giảm mà ngày càng diễn biến phức tạp. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tai nạn giao thông do lỗi không chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông. Bị cáo nhận thức việc sử dụng điện thoại khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông là vi phạm nhưng vẫn thực hiện và đã gây tai nạn. Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại cũng có 1 phần lỗi khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đến đoạn đường giao nhau với đường ưu tiên nhưng không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên đã vi phạm khoản 1 Điều 22 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng, dăn đe phòng ngừa chung. [5]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ rõ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thất bị cáo không hành nghề lái xẻ nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Đức P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000đ, gồm: Chi phí điều trị tại các cơ sở y tế 20.000.000 đồng, chi phí mai táng phí 50.000.000 đồng, tiền tổn thất về mặt tinh thần 230.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu hỗ trợ chi phí gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đối với hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 88S6 - 0011 và xe ô tô biển kiểm soát 88A - 358.20, đại diện gia đình bị hại và Nguyễn Đức P tự khắc phục hậu quả, không đề nghị bồi thường chi phí nào khác. [9]. Về xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô biển kiểm soát 88A-358.20; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 017403 do phòng C1 Công an tỉnh V cấp ngày 28/02/2022; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới số VA 2561781 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 88-03D cấp ngày 01/10/2025; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô và bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số OB 25/0184975 do Công ty cổ phần T3 chi nhánh V cấp ngày 01/10/2025 đều là tài sản của bị cáo. Ngày 16/11/2025, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã trả P xe ô tô cùng giấy tờ xe, nhận được tài sản P không đề nghị gì khác.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 88S6-0011; 01 Đăng ký mô tô, xe máy số 012434 do phòng C1 Công an tỉnh V cấp ngày 03/12/2007 là tài sản của ông Lê Minh Đ. Ngày 16/11/2025, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã trả xe mô tô cùng giấy tờ cho ông Lê Minh T2 là người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại. Sau khi nhận lại tài sản, giấy tờ nêu trên ông T2 có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 260097262983 do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 06/8/2018 là giấy tờ của P chuyển theo hồ sơ vụ án, trả lại P nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 Giấy phép lái xe AX 826976 hạng A1 của Lê Minh Đ do Sở G cấp ngày 14/12/2012 là giấy tờ của ông Đ chuyển theo hồ sơ vụ án, trả lại đại diện gia đình bị hại sau khi xét xử.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 92 Luật thi hành án hình sự, xử phạt: Nguyễn Đức P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức P cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Đức P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 06/8/2018 cho Nguyễn Đức P nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (giấy phép lái xe do Tòa án giữ).
Trả lại gia đình bị hại 01 Giấy phép lái xe AX 826976 hạng A1 của ông Lê Minh Đ.
4. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đức P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Phú Thọ;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 10 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ;
- UBND xã Vĩnh Thành;
- Bị cáo; người tham gia tố tụng;
- Lưu VP, HSVA, bộ phận THAHS.
Nguyễn Song Lưu THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Hương
Lê Thị Hoà
Nguyễn Song Lưu
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 10 - Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ; - UBND xã Vĩnh Thành; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu VP, HSVA, bộ phận THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Lưu |