vanban.org

Bản án 38/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hạng Giàng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Hạng Giàng S 16 (mười sáu) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/11/2025. Về vật chứng: Áp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng Giàng S - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hạng Giàng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HS-ST
Ngày: 10-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thùng Văn Quân

2. Ông Khoàng Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Điêu Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hạng Giàng S; S ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại tỉnh Lai Châu; Nơi thường trú: Bản M 2, xã T, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước: 012075000xxx, ngày cấp: 23/12/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Hạng A K (đã chết) và bà Giàng Thị M (đã chết). Từ năm 1997 đến năm 2008 bị cáo chung sống như vợ chồng với Vàng Thị C; Từ năm 2011 bị cáo chung sống như vợ chồng với Vàng Thị Sua, hiện Vàng Thị Sua đã bỏ đi Trung Quốc. Bị cáo không có con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/11/2025, sau đó bị tạm giam từ ngày 30/11/2025 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hạng Giàng S: Bà Giàng Thị Nhung, S năm 1987 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị T, S năm 1992; địa chỉ: Bản M 2, xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

Người phiên dịch: Bà Vàng Thị Dính, S năm 1988; địa chỉ: Bản Nà Hỳ 3, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 25/11/2025, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Điện Biên, phối hợp với Công an xã T, tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản Huổi Lếch, xã T, tỉnh Điện Biên, phát hiện Hạng Giàng S đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27S1-026.29 từ hướng bản M 2, xã T về hướng bản Huổi Lếch, xã T có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong chiếc túi vải màu đen S đang đeo trên người có 02 gói nilon màu đen buộc thắt nút, bên trong gói nilon thứ nhất có 10 gói nilon trong suốt đều chứa các cục bột màu trắng nghi là Heroine; bên trong gói nilon thứ hai có 04 gói nilon trong suốt đều chứa các cục bột màu trắng nghi là Heroine. Tổ công tác đã đưa Hạng Giàng S về trụ sở Công an xã T, đồng thời mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng của Hạng Giàng S.

Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nilon màu đen, gói thứ nhất bên trong có 10 gói nilon trong suốt và gói thứ hai có 04 gói nilon trong suốt, bên trong đều chứa cục bột màu trắng; 01 chiếc túi vải màu đen, đã cũ có quai đeo; 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu A35 Viettel, sử dụng số sim 0977.895.306, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 27S1-026.29, xe cũ đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, truy tố Hạng Giàng S khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/11/2025, Hạng Giàng S đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Mông gọi điện thoại từ số 0334.825.936, giới thiệu cư trú tại bản Giàng Li Cha, xã Tà Tổng, tỉnh Lai Châu, hỏi mua ma túy của Hạng Giàng S với giá 1.200.000 đồng/01 chỉ Heroine, địa điểm giao ma túy là bản Huổi Lếch, xã T, được S đồng ý. Cùng ngày 25/11/2025 Hạng Giàng S đã gọi điện thoại hỏi mua 14 chỉ Heroine của cháu họ là TH ở cùng bản M 2, xã T với giá 1.100.000 đồng/chỉ, tổng 14 chỉ là 15.400.000 đồng, S hẹn Tu giao Heroine tại đường gần nhà S. Sau đó, S mượn xe mô tô biển kiểm soát 27S1-026.29 của Mùa Thị Tỉnh ở cùng bản M 2, rồi một mình điều khiển xe mô tô từ nhà tới chỗ đường ô tô gần nhà S để mua ma túy của TH, S hẹn Tu khi nào bán được Heroine thì sẽ trả tiền cho Tu. Tại đây, TH đã đưa cho S 01 gói nilon màu đen, bên trong có 14 gói Heroine (tương đương với 14 chỉ), S nhặt 01 mảnh nilon màu đen ở cạnh đường, rồi cho 04 gói Heroine trong gói nilon mà Tu đưa cho gói lại thành 01 gói nữa, sau đó S cho 02 gói nilon màu đen bên trong có chứa 14 gói Heroine vào túi vải màu đen S đeo trên người. Sau đó, S tiếp tục điều khiển xe mô tô lên bản Huổi Lếch để bán Heroine cho người đàn ông dân tộc Mông như đã hẹn. Khi S đang điều khiển xe mô tô đi tới bản Huổi Lếch, chưa gặp được người đàn ông mua Heroine thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong chất ma túy; niêm phong mẫu giám định và niêm phong vật chứng, đồ vật, tài liệu còn lại ngày 26/11/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên xác định: 14 gói chứa các cục, bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M14) có tổng khối lượng 63,89 (sáu mươi ba phẩy tám mươi chín) gam.

Tại Kết luận giám định số 1157/KL-KTHS, ngày 03/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Vật chứng thu giữ của Hạng Giàng S ký hiệu từ M1 đến M14 có tổng khối lượng 63,89 gam là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine).”

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSĐB-P1 ngày 10/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Hạng Giàng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên tòa, bị cáo Hạng Giàng S một lần nữa đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hạng Giàng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025; đề nghị xử phạt bị cáo Hạng Giàng S từ 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đến 17 (mười bẩy) năm tù. Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là 61,68 gam Heroine hoàn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 túi vải màu đen có quai đeo; 02 mảnh nilon màu đen và 14 mảnh nilon. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu A35 Viettel, đã cũ, đã qua sử dụng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Hạng Giàng S nhất trí với Cáo trạng cũng như luận tội của Kiểm sát viên. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhân thân và hoàn cảnh gia đình của bị cáo để xử phạt tù bị cáo mức thấp nhất trong đề nghị của Kiểm sát viên. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Hạng Giàng S không có ý kiến tranh luận gì. Khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Hạng Giàng S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 12 giờ 10 phút, ngày 25/11/2025, tại khu vực đường thuộc bản Huổi Lếch, xã T, tỉnh Điện Biên, bị cáo Hạng Giàng S đã có hành vi vận chuyển trái phép 63,89 (sáu mươi ba phẩy tám mươi chín) gam Heroine để bán cho một người đàn ông kiếm lời. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố (BL 70-78; 112-113), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ (BL 01-02), Kết luận giám định (BL 51) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hạng Giàng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:

“3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:…

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;”

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã T, vì ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận đã cố ý phạm tội.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi bị bắt giữ và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu ở trên, xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với vật chứng là 61,68 (sáu mươi mốt phẩy sáu mươi tám) gam Heroine hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành, tàng trữ và các mảnh nilon, 01 túi vải màu đen là vật không có giá trị, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy. Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu A35 Viettel bị cáo sử dụng để liên hệ việc mua bán ma túy là phương tiện phạm tội, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung ngân sách nhà nước như đề nghị của Kiểm sát viên.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 27S1-026.29, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hạng Giàng S, cơ quan điều tra đã xác minh, làm rõ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị T ở bản M 2, xã T cho bị cáo mượn sử dụng. T không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị T (biên bản về việc trả lại tài sản vào ngày 30/12/2025). Tại phiên tòa chị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc xử lý vật chứng đối với chiếc xe mô tô của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, mức hình phạt áp dụng, xử lý vật chứng, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh gia đình, xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất trong đề nghị của Kiểm sát viên. Xét thấy, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo lớn, cần phải có hình phạt nghiêm khắc hơn để răn đe tội phạm nên không chấp nhận đề nghị về hình phạt tù của người bào chữa. Đối với các đề nghị khác là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên, Kiểm sát viên và người bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án Hạng Giàng S khai đã mua 14 gói Heroine của TH vào ngày 25/11/2025 ở đường ô tô gần nhà bị cáo tại bản M 2, xã T, tỉnh Điện Biên. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh TH phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

Quá trình điều tra, bị cáo Hạng Giàng S khai, được 01 người đàn ông dân tộc Mông giới thiệu nhà ở bản G, xã T1, tỉnh Lai Châu sử dụng số điện thoại 0334.825.xxx liên hệ mua ma túy của S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã xác định chủ số 0334.825.xxx là bà Nguyễn Thị T3, S năm 1962, trú tại phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, bà Tiến khẳng định không sử dụng số điện thoại nêu trên, không quen biết Hạng Giàng S, không S sống tại tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo Hạng Giàng S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại xã T, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hạng Giàng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Hạng Giàng S 16 (mười sáu) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/11/2025.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết đinh:

- Tịch thu tiêu hủy 61,68 (sáu mươi mốt phẩy sáu mươi tám) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định; 01 túi vải màu đen đã cũ, có quai đeo; 02 mảnh nilon màu đen và 14 mảnh nilon trong suốt.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu A35 Viettel, loại bàn phím, sử dụng số sim 0977.985.306, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng.

(Vật chứng gồm 04 khoản được niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/02/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Điện Biên).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hạng Giàng S.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Hạng Giàng S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 10/3/2026. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khoàng Văn Sơn

Thùng Văn Quân

Phạm Thị Sao

Cỡ chữ