vanban.org

Bản án 38/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 24/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nhữ Công Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, các Điều 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử phạt bị cáo N1 Công Đ 03 (ba) năm tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhữ Công Đ "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nhữ Công Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HS-ST
p
Ngày: 24-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Vân;

2. Bà Nguyễn Thị Rê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2

- Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây

Ninh, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

39/2026/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

40/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Nhữ Công Đ, sinh ngày 20-01-1981, tại Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp M, xã Đ,

tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Nhữ Công Đ (chết) và

bà Trần Thị Ơ; Vợ Trần Thị N, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất

sinh năm 2019; Tiền án,tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ

ngày 18-12-2025 đến nay. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N, sinh năm 1987; Nơi

cư trú: Ấp M, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (có mặt);

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh

(vắng mặt);

+ Ông Nguyễn Công H, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp M, xã Đ, tỉnh Tây

Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Nhữ Công Đ là nhân viên bảo vệ Công ty D, địa chỉ ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh.

Khoảng 17 giờ ngày 17-12-2025, Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 62S1-384.48 đến Công ty làm việc. Trên đường đi, Đ1 ghé vào quán nước (không nhớ biển hiệu) uống nước. Tại đây, Đ1 gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch); qua tìm hiểu, người thanh niên này biết Đ1 là người sử dụng ma túy nên gợi ý để bán ma túy, Đ1 đồng ý mua với số tiền 600.000 đồng và hẹn giao ma túy ở trước cổng Công ty. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, người thanh niên đến giao cho Đ1 01 gói thuốc Jet màu trắng bên trong có 01 túi nylon trong suốt chứa ma túy, Đ1 đưa 600.000 đồng cho người này xong lấy túi nylon chứa ma túy từ trong gói thuốc Jet ra bỏ vào gói thuốc nhãn hiệu Hòa Bình, xong vứt gói thuốc Jet đi. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Đ1 lấy ma túy trong gói thuốc Hòa Bình và dụng cụ sử dụng ma túy (trong giỏ xách đem theo) rồi ra phía sau chốt bảo vệ để sử dụng. Số ma túy còn lại Đ1 cất vào túi áo ngực bên phải mục đích để sử dụng tiếp. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18-12-2025, sau khi tan làm, Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 62S1-384.48 chạy về nhà. Khi đi đến Tỉnh lộ 822, thuộc ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an xã Đ kiểm tra phát hiện bên trong túi áo sơ mi bên phải của Đ1 có một gói thuốc nhãn hiệu Hòa Bình màu trắng - xanh có chứa 01 túi nylon trong suốt, một đầu có rãnh khép, bên trong có chứa tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy và trong túi áo khoác màu đen, bên trái của Đ1 đang mặc có chứa 01 dụng cụ sử dụng ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ1 và thu giữ các tang vật trên theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 3065/KL-KTHS ngày 24-12-2025 của Phòng

K Công an tỉnh T kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon có rãnh khép màu trắng kích thước 04 x 02 cm là chất ma túy loại Methamphetamin, khối lượng 0,8191 gam; Tinh thể màu trắng ngã vàng đựng trong ống thủy tinh là chất ma túy loại Methamphetamin, khối lượng 0,2198 gam. Tổng khối lượng là 1,0389 gam.

Cáo trạng số 16/CT-VKSKV2 ngày 03-4-2026 của Viện Kiểm sát nhân dân

khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo bị cáo Nhữ Công Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đ1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy

tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N: Bà và bị cáo

Đ1 là vợ chồng. Xe mô tô biển số 62S1-384.48 là tài sản chung của vợ chồng, do bị cáo Đ1 đứng tên, bị cáo Đ1 sử dụng đi làm, bà không biết việc bị cáo Đ1 dùng xe này để đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Bà xin được nhận lại xe để lại làm

phương tiện đi lại làm lụng nuôi 02 con (đứa con nhỏ bị khuyết tật thiểu năng trí tuệ).

Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đề

nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nhữ Công Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

+ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38

và Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đ1 từ 03 năm đến 04 năm tù. Không áp

dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình

sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon trong suốt kích thước 04 x 02 cm, một đầu có

rãnh khép, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy; 01 gói thuốc lá điếu nhãn

hiệu HB màu xanh; 01 dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) ống

thủy tinh trong suốt dài 05 cm, một đầu được uốn cong dài 05 cm, nơi phình to có

đường kính 01 cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng ngã vàng là chất ma túy và

01 chai nhựa màu trắng, có in chữ Betagen màu đỏ, được gắn với 01 nắp chai màu

nâu và 02 đoạn ống hút màu đỏ bằng băng keo màu đen; 01 bật lửa gas hình trụ tròn,

bên trên có in chữ và số ĐB.68.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại

Wave A, màu đen, gắn biển số 62S1-384.48, số khung: RLHJA3938RY602434, số

máy: JA70E0260464.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan cảnh sát điều tra,

Quyết định phê chuẩn khởi tố bị can và Cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát

đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hành vi tố tụng của

Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng

Hình sự.

Tại phiên tòa, những người làm chứng ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn

Công H vắng mặt không lý do. Xét thấy những người làm chứng này đã có lời khai

rõ ràng trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình

xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều

293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18-12-2025, tại đoạn đường TL822 thuộc ấp

T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nhữ Công Đ1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma

túy khối lượng 1,0389 gam, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cá nhân

thì bị lực lượng Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên toà, bị cáo Đ1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của

bị cáo phù hợp khách quan với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập lúc 07 giờ 30 phút ngày 18-12-2025, Kết luận giám định số 3065/KL-KTHS ngày 24-12-2025 của Phòng K Công an tỉnh T, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Bị cáo Đ1 đủ lý trí và năng lực để nhận thức được việc đủ lý trí và năng

lực để nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý;

Đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 16/CT-VKSKV2 ngày 03-4-2026 của Viện Kiểm sát nhân

dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Đ1 với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo Đ1 là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm

phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, có khả năng gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm; Không những thế, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây phẫn nộ, bất bình trong quần chúng nhân dân; Hành vi của bị cáo Đ1 cần được xử lý nghiêm, cần cách bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét bị cáo Đ1 phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm

nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; ba ruột của bị cáo Đ1 là ông Nhữ Công Đ là người có công với cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo có 01 con bị khuyết tật thiểu năng trí tuệ, bị cáo là lao động chính, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Đ1 hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định, không áp

dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo

Đ1 là có căn cứ pháp luật.

Về xử lý vật chứng, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng

hình sự, Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự, xét thấy:

- 01 túi nylon trong suốt kích thước 04 x 02 cm, một đầu có rãnh khép, bên

trong chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy; 01 gói thuốc lá điếu nhãn hiệu HB màu xanh; 01 dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 ống thủy tinh trong suốt dài 05 cm, một đầu được uốn cong dài 05 cm, nơi phình to có đường kính 01 cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng ngã vàng là chất ma túy và 01 chai nhựa màu trắng, có in chữ Betagen màu đỏ, được gắn với 01 nắp chai màu nâu và 02 đoạn ống hút màu đỏ bằng băng keo màu đen; 01 bật lửa gas hình trụ tròn, bên trên có in chữ và

số ĐB.68; đây là ma túy và các dụng cụ sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng,

tịch thu tiêu hủy là phù hợp:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, màu đen, biển số 62S1-384.48,

số khung: RLHJA3938RY602434, số máy: JA70E0260464, do bị cáo Đ1 đứng tên,

bị cáo sử dụng để đi mua và tàng trữ ma túy, tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù

hợp. Riêng bà Trần Thị N cho rằng xe này là tài sản chung của vợ chồng nên xin

nhận lại xe là không phù hợp.

Vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Tây Ninh quản lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần

Thị N không có yêu cầu gì nên không đề cập; Bà N có quyền khởi kiện bị cáo Đ1 để

yêu cầu bị cáo Đ1 bồi thường ½ giá trị xe mô tô biển số 62S1-384.48 là tài sản chung

theo quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị N không biết việc bị cáo Đ1 sử dụng xe mô tô biển số 62S1-

384.48 (là tài sản chung của vợ chồng) để mua và tàng trữ trái phép chất ma túy nên

không xem xét trách nhiệm hình sự với bà N là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Đ1 không rõ nhân thân lai

lịch, không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật. Nhằm tránh bỏ lọt tội phạm,

kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau

theo quy định của pháp luật.

Về án phí, căn cứ các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Tòa án xét thấy: Bị cáo Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Nhữ Công Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều

38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, các Điều 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

xử phạt bị cáo N1 Công Đ 03 (ba) năm tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ,

tạm giam (ngày 18-12-2025).

- Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo

Nhữ Công Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày sau khi tuyên án (ngày 24-4-2026), để đảm

bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

- Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều

46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon trong suốt kích thước 04 x 02 cm, một đầu

có rãnh khép, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy; 01 gói thuốc lá điếu

nhãn hiệu HB màu xanh; 01 dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) ống thủy tinh trong suốt dài 05 cm, một đầu được uốn cong dài 05 cm, nơi phình to có đường kính 01 cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng ngã vàng là chất ma túy và 01 chai nhựa màu trắng, có in chữ Betagen màu đỏ, được gắn với 01 nắp chai màu nâu và 02 đoạn ống hút màu đỏ bằng băng keo màu đen; 01 bật lửa gas hình trụ tròn, bên trên có in chữ và số ĐB.68.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại

Wave A, màu đen, gắn biển số 62S1 - 384.48, số khung: RLHJA3938RY602434, số máy: JA70E0260464.

Vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKSKV2 và bảng kê vật chứng cùng ngày 03-4-2026, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10-4-2026.

- Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo N1 Công Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, được quyền kháng

cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 24-4-2026).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ