- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Hữu N phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Hữu N phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2026/HS-ST Ngày 26-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liễu Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lợi;
Bà Chu Thị Bời;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2026/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 11/2026/QĐ-TA ngày 25 tháng 02 năm 2026, đối với bị cáo:
Mai Hữu N; sinh ngày 10 tháng 11 năm 1992 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn T1, xã T2, tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: 0200920056**, ngày cấp: 27-6-2021, nơi cấp: Cục C06 – Bộ Công an; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T3 và bà Nông Thị U; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 07-02-2018 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T2, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng, ngày 07-5-2018 chấp hành xong; tại Quyết định số 09/2019/QĐ-TA ngày 25-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện T2, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng, ngày 31-01-2021 chấp hành xong; tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 144/QĐ-XPHC ngày 17-10-2024 của Công an huyện T2, tỉnh Lạng Sơn xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 165/QĐ-XPHC ngày 28-10-2024 của Công an huyện T2, tỉnh Lạng Sơn xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tất cả đã được xóa tiền sự; bị bắt, tạm giam từ ngày 07-11-2025 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Hữu N nghiện chất ma túy từ năm 2012, tham gia điều trị nghiện chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 13-7-2021 tại Cơ sở điều trị Methadone T2, tỉnh Lạng Sơn và điều trị liên tục từ đó cho đến nay. Trong thời gian tham gia điều trị nghiện chất ma túy Heroin bằng thuốc thay thế Methadone theo quy định của Luật phòng chống ma túy, thỉnh thoảng Mai Hữu N vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, lúc đầu sử dụng bằng hình thức hít sau đó là chích. Khoảng 09 giờ ngày 01-11-2025, Mai Hữu N đi uống thuốc điều trị cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone T2; sau khi uống thuốc thay thế Mai Hữu N có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã đi đến một hiệu thuốc ở xã T4, tỉnh Lạng Sơn mua xi lanh và nước cất để sử dụng ma túy; rồi tiếp tục đi nhờ xe đến khu vực cây xăng thuộc thôn P, xã Q, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy. Tại đây, Mai Hữu N gặp một người đàn ông (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ), sau khi trao đổi, Mai Hữu N đã mua 200.000 (hai trăm nghìn) đồng được 01 (một) gói ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, Mai Hữu N đi bộ vào cạnh đường thuộc thôn C, xã Q, tỉnh Lạng Sơn sử dụng hết số ma túy vừa mua được bằng hình thức chích, sau đó đi về nhà. Ngày 04-11-2025, Công an xã T2, tỉnh Lạng Sơn triệu tập Mai Hữu N đến làm việc, Mai Hữu N đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã lập biên bản sự việc, phối hợp với Trạm y tế xã tiến hành kiểm tra xét nghiệm chất ma túy xác định Mai Hữu N dương tính với ma túy; đồng thời tiến hành thu mẫu nước tiểu của Mai Hữu N; tại Kết luận giám định số 3220/KL-KTHS ngày 05-11-2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Mẫu nước tiểu ghi thu của Mai Hữu N sinh năm 1992, trú tại thôn T1, xã T2, tỉnh Lạng Sơn (đựng bên trong 01 (một) chai nhựa sạch trong suốt dung tích 350ml vặn chặt nắp màu xanh ký hiệu “Mẫu số 01”, trên thân chai ghi “Mẫu nước tiều thu của Mai Hữu N, sinh năm 1992, trú tại thôn T1, xã T2, tỉnh Lạng Sơn. Thu ngày 04/11/2025”) gửi giám định có tìm thấy Morphine” (là thành phần chuyển hóa của Heroine).
Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSKV2 ngày 22-01-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Mai Hữu N về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố, giữ nguyên các lời khai về hành vi đã thực hiện và thừa nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; bị cáo không bị thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Mai Hữu N phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Mai Hữu N nghiện ma túy, đang trong thời điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy; ngày 01-11-2025, tại thôn C, xã Q, tỉnh Lạng Sơn, Mai Hữu N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine bằng hình thức chích; qua giám định đã tìm thấy Morphine là thành phần chuyển hóa của chất ma túy Heroine trong nước tiểu của Mai Hữu N. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Mai Hữu N phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội, nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo nghiện ma túy, đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, nhiều lần bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy đã chấp hành xong và đã được xóa nhưng xét thấy có nhân thân không tốt; đang trong thời gian điều trị cai nghiện bị cáo lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, điều này cho thấy bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng, Cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và án phí phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Hữu N phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Hữu N 02 (hai) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 07 tháng 11 năm 2025.
3. Về án phí: Bị cáo Mai Hữu N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 2 - Lạng Sơn; - CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn; - Công an tỉnh Lạng Sơn (Phòng hồ sơ); - CQTHAHS CA tỉnh Lạng Sơn; - Trại TG CA tỉnh Lạng Sơn (phân trại TGT4); - THADS tỉnh Lạng Sơn (PTHADS KV*); - Bị cáo; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Liễu Thị Hạnh |