vanban.org

Bản án 38/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn C phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Cà Văn C 04 (Bốn) năm tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm tù về t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; tổng h p hình phạt chung hai t i là 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/9/2025); không phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Că… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn C, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn C phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; luật Hình sự và điểm a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38 /2026/HS-ST
Ngày 09 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- SƠN LA.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Ngoan và bà Trần Thị Thuý.

- Thư ký phiên toà: Bà Cầm Hải Yến, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1-Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Long Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Cà Văn C, sinh ngày 10/10/1995; tại xã M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Lâm, x M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao đ ng tự do; trình đ học vấn: lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; con ông Cà Văn H, sinh 1970 và bà Lò Thị L, sinh 1973; bị cáo chưa c v con; tiền án: không; tiền sự: ngày 20/12/2018 bị Toà án nhân dân huyện M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c 24 tháng, ngày 08/8/2024 chấp hành xong; Nhân thân: ngày 08/8/2024 UBND xã C lập hồ sơ và quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú thời hạn từ ngày 08/8/2024 đến 08/8/2026; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2025 đến nay; c mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Hồi 20 giờ 25 phút, ngày 04/9/2025, Cà Văn C đi b đến Tiểu khu Phiêng Tìn, xã M, tỉnh Sơn La thì gặp Tổ công tác Công an xã M làm nhiệm vụ kiểm tra; đấu tranh tại chỗ Cà Văn C giao n p 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 16 viên nén màu hồng và 01 g i nilon màu xanh bên trong chứa cục b t màu trắng, C khai nhận đ là ma tuý. Tổ công tác đ lập biên bản bắt người phạm t i quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) để điều tra theo thẩm quyền; đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Cường nhưng không thu giữ gì thêm.

Cùng ngày 04/9/2025, Cơ quan CSĐT, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lư ng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Cà Văn C, như sau: 16 viên nén màu hồng trong g i nilon màu xanh c khối lư ng 1,54 gam, lấy hết làm mẫu giám định ký hiệu C1. Cục b t màu trắng trong g i nilon màu xanh c khối lư ng là 0,72 gam, lấy hết làm mẫu giám định ký hiệu C2; còn lại 02 mảnh nilon màu xanh niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.

Thực hiện test thử ma tuý với Cà Văn C, kết quả dương tính (+) với chất ma tuý Heroine (C khai ma tuý sử dụng là Heroine); tổ chức lấy 02 mẫu nước tiểu của Cà Văn C cho vào 02 chai thuỷ tinh c nắp đậy, cho vào 01 chai thuỷ tinh niêm phong ký hiệu T1, trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà N i giám định thành phần chất ma tuý, chất chuyển hoá của chất ma tuý; thu thập hồ sơ quản lý sau cai nghiện ma tuý, kết quả: Công an xã M cung cấp hồ sơ Cà Văn C gồm: Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 08/8/2024 của Uỷ ban nhân dân xã C, quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú; Lý lịch t m tắt của người bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý; Đề nghị số 06/ĐN-QLSC ngày 08/8/2024 của Công an x C, đề nghị xem xét, quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú; Quyết định số 216/QĐ- CSĐTNMT ngày 24/6/2024 về việc công nhận thời gian chữa trị, cai nghiện bắt bu c; Giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c; Biên bản thử chất ma tuý ngày 15/12/2024 của UBND x C đối với Cà Văn C, c kết quả: âm tính (-). Xác định hiện trường, truy tìm vật chứng tại khu vực rừng thu c x Nặm Păm theo lời khai của C nhưng không xác định đư c hiện trường cụ thể, không thu giữ đư c vật chứng C sử dụng trái phép chất ma tuý.

Ngày 08/9/2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La c Kết luận giám định số 1099/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lư ng của mẫu gửi giám định là 1,54 gam. Mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lư ng của mẫu gửi giám định là 0,72 gam; tổng khối lư ng ma tuý thu giữ là 0,72 gam; loại Heroine và 1,54 gam loại Methamphetamine. Hoàn lại các viên nén màu hồng và các mảnh viên nén màu hồng ký hiệu C1 c khối lư ng 1,50 gam và các cục b t màu trắng ký hiệu C2 c khối lư ng 0,70 gam”.

Ngày 09/9/2025 Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà N i c kết luận giám định số 5720/KL-KTHS, Kết luận: “Trong mẫu nước tiểu của Cà Văn C thu ngày 04/9/2025 (ký hiệu T1) c tìm thấy ma tuý loại Morphine và ma tuý loại Codeine”.

Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lư ng hoặc thể tích chất ma túy tại m t số điều của B luật Hình sự thì hai chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của Cà Văn C đư c quy định trong cùng m t điểm nên khối lư ng chất ma túy c ng lại là 2,26 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên toà C khai nhận: ngày 20/12/2018 bị Toà án nhân dân huyện M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c 24 tháng, ngày 04/8/2019 Cường bỏ trốn đến ngày 22/3/2023 bị bắt bu c phải tiếp tục chấp hành thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại. Sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính về địa phương, cùng ngày 08/8/2024 UBND xã C lập hồ sơ và quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú thời hạn từ ngày 08/8/2024 đến 08/8/2026; do không làm chủ đư c bản thân nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/9/2025 Cường đi nhờ xe đến bản Lè, x M thì gặp người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ hỏi và mua g i Heroine với giá 100.000VNĐ sau đ đi b về khu rừng địa phận x Nặm Păm sử dụng giấy bạc, bật lửa gas đốt hết số ma tuý, hít vào cơ thể, giấy bạc và bật lửa đ vứt bỏ không rõ vị trí rồi đi b về nhà đến khoảng 17 giờ 30 ngày 04/9/2025, tiếp tục đi nhờ xe của người đi đường (không rõ họ tên, địa chỉ) đến bản Khâu Vai, xã Ngọc Chiến thì gặp người tên là Nênh (không rõ họ đệm) hỏi và mua đư c 02 gói ma tuý với số tiền 1.000.000VNĐ cất giữ và bị bắt quả tang.

Thực hiện điều tra, xác minh đối với người tên Nênh và người bán trái phép chất ma túy cho C nhưng không thu thập đư c tài liệu khác ngoài lời khai của bị cáo; tiến hành xác định hiện trường, truy tìm vật chứng là mảnh giấy bạc và bật lửa gas nhưng không thu giữ đư c.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKSKV1, ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La, truy tố bị cáo Cà Văn C về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a B luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm t i là do không từ bỏ đư c ma tuý nên đ mua ma túy cất giữ và sử dụng thì bị bắt như cáo trạng đ nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La luận t i và tranh luận: đề nghị tuyên bố bị cáo Cà Văn C phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn C từ 03 năm 10 tháng đến 04 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn C từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 04 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điều 55 B luật Hình sự tổng h p hình phạt chung cả hai t i đối với bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 04 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 B luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 B luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy: 1,50 gam Methamphetamine, ký hiệu C1; 0,70 gam Heroine, ký hiệu C2; 02 mảnh nilon màu xanh. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Cà Văn C tự bào chữa, tranh luận: nhất trí luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1.

Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; bị cáo xin H i đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu c trong hồ sơ đ đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, H i đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không c ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện là h p pháp.

Về chứng cứ xác đinh hành vi phạm t i: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra, phù h p với n i dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm t i quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đ đư c thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, đư c thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/9/2025, bị cáo Cà Văn C mua 01 gói ma tuý của m t người đàn ông không biết tên, địa chỉ mang về đến khu rừng địa phận x Nặm Păm sử dụng giấy bạc bật lửa gas đốt hết số ma tuý, hít vào cơ thể, sử dụng xong C vứt bỏ dụng cụ rồi đi về nhà; khoảng 17 giờ 30 phút, cùng ngày Cà Văn C tiếp tục đi nhờ xe của người đi đường (không rõ họ tên, địa chỉ) đến bản Khâu Vai, x Ngọc Chiến thì gặp người tên là Nênh hỏi và mua đư c 02 g i ma tuý với số tiền 1.000.000VNĐ, cất vào túi quần rồi đi đến Tiểu khu Phiêng Tìn, xã M, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Công an xã M phát hiện, C giao n p 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 16 viên nén màu hồng và 01 g i nilon màu xanh bên trong chứa cục b t màu trắng, khai nhận đ là ma tuý. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm t i quả tang, thu giữ toàn b vật chứng. Kết quả test thử ma tuý với Cà Văn C, dương tính (+) với chất ma tuý Heroine; tổ chức lấy 02 mẫu phẩm và trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà N i giám định thành phần chất ma tuý, chất chuyển hoá của chất ma tuý; thu thập hồ sơ quản lý sau cai nghiện ma tuý gồm: Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 08/8/2024 của Uỷ ban nhân dân x C, quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú; Lý lịch t m tắt của người bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý; Đề nghị số 06/ĐN-QLSC ngày 08/8/2024 của Công an x C, đề nghị xem xét, quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú; Quyết định số 216/QĐ- CSĐTNMT ngày 24/6/2024 về việc công nhận thời gian chữa trị, cai nghiện bắt bu c; Giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c; Biên bản thử chất ma tuý ngày 15/12/2024 của UBND x C đối với Cà Văn C, c kết quả: âm tính (-). Tại kết luận giám định số 1099/KL-KTHS, ngày 08/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lư ng của mẫu gửi giám định là 1,54 gam. Mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lư ng của mẫu gửi giám định là 0,72 gam; tổng khối lư ng ma tuý thu giữ là 0,72 gam; loại Heroine và 1,54 gam loại Methamphetamine”. C ng khối lư ng hai chất ma túy là 2,26 gam và Kết luận giám định số 5720/KL-KTHS, ngày 09/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà N i, kết luận: “Trong mẫu nước tiểu của Cà Văn C thu ngày 04/9/2025 (ký hiệu T1) c tìm thấy ma tuý loại Morphine và ma tuý loại Codeine”. Như vậy, Cà Văn C là người c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đ cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giữ trái phép 02 chất ma tuý (Heroine và Methamphetamine) có tổng khối lư ng là 2,26 gam tương đương với khối lư ng chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật Hình sự “c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine… c khối lư ng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” và sử dụng trái phép chất ma tuý đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý là xâm phạm quy định của Nhà nước về chế đ quản lý, sử dụng chất ma tuý, xâm hại đến sức khoẻ của người sử dụng, c đủ yếu tố cấu thành t i phạm nên H i đồng xét xử c đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn C phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của B luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thu c m t trong các trường h p sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: i) C 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lư ng hoặc thể tích của các chất đ tương đương với khối lư ng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại m t trong các điểm từ b đến điểm h khoản này” và t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của B luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025: “1. Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý thu c m t trong các trường h p sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm: b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý”.

Về tính chất mức đ của hành vi: Bị cáo đư c tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện điều trị nghiện ma tuý nhưng ý thức coi thường kỷ cương x h i, pháp luật của Nhà nước, vì sử dụng ma túy bị cáo đ thực hiện hành vi phạm t i. Hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho x h i, đ xâm phạm quy định của Nhà nước về chế đ quản lý, sử dụng chất ma tuý; với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo không chỉ cất giấu, cất giữ trái phép 02 chất ma túy mà còn sử dụng trái phép chất ma tuý đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý (01 năm 24 ngày), hành vi phạm t i nghiêm trọng; t i phạm bị cáo thực hiện đ hoàn thành không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao đ ng mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn x h i, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại t i phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La truy tố bị cáo theo 02 t i danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng t i; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận t i quy kết bị cáo phạm t i và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là c căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 B luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư, nhân thân: Bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm t i), ăn năn hối cải (chấp hành tốt n i quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt). Do đ , xét cho bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tư ng sử dụng trái phép chất ma túy, chính quyền địa phương xác định chưa chấp hành quy định của địa phương.

Về hình phạt: Từ những phân tích và nhận định trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với cả hai t i và tổng h p chung cách ly ra ngoài x h i m t thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, c ích cho x h i và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự; căn cứ Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55 B luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 B luật Hình sự, bị cáo c thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: không c tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của B luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2025 đư c xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Đối với người bán trái phép chất ma túy theo lời khai bị cáo, Cơ quan CSĐT không thu thập đư c tài liệu khác nên không c cơ sở xử lý.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đ lấy mẫu giám định 0,02 gam Heroine và 0,04 gam Methamphetamine .

Hiện đang lưu kho vật chứng các mẫu giám định hoàn lại gồm: 1,50 gam Methamphetamine, ký hiệu C1 và 0,70 gam Heroine, ký hiệu C2 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 B luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 B luật Tố tụng hình sự.

02 mảnh nilon màu xanh là vật chứng không c giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 B luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân t c thiểu số sống ở vùng đặc biệt kh khăn, bị cáo xin miễn n p tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i, bị cáo thu c trường h p đư c miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 của B luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

1. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn C phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

2. Xử phạt: Bị cáo Cà Văn C 04 (Bốn) năm tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm tù về t i “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; tổng h p hình phạt chung hai t i là 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/9/2025); không phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của B luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 B luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 1,50 gam Methamphetamine, ký hiệu C1; 0,70 gam Heroine, ký hiệu C2 và 02 mảnh nilon màu xanh của Cà Văn C (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và cơ quan Thi hành án dân sự).

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i. Miễn n p tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn C.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/01/2026).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ