vanban.org

Bản án 38/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò San M như sau.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò San M được ly hôn anh Chảo Láo S. Quan hệ hôn nhân của chị Lò San M và anh Chảo Láo S được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Về quan hệ con chung: Giao cháu Chảo Tuấn M, sinh ngày 28 tháng 8 năm 20xx, cháu Chảo Thị H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 20xx và c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò San Mẩy"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò San M như sau.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HNGĐ-ST
Ngày 28-7-2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Giang và bà Đào Phương Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7

- Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Ngọc Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 30/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2026, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2026, quyết định hoãn phiên tòa số 22/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò San M, sinh năm 19xx. Số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx.

Bị đơn: Anh Chảo Láo S, sinh năm 19xx. Số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx.

Cùng địa chỉ: Thôn Ph, xã A, tỉnh Lào Cai.

Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị Lò San M: Bà Nông Thị Thúy H, sinh năm 19xx - Là trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

Địa chỉ: Số 007, đường L, phường S, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Lò San M trình bày:

Chị Lò San M và anh Chảo Láo S tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, đến ngày 02 tháng 4 năm 2014 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn, tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp bất đồng quan điểm và một phần do chi phí chữa bệnh cho con làm ảnh hưởng kinh tế làm đời sống gia đình khó khăn, nhưng anh Chảo Láo S không chăm no làm ăn xây dựng kinh tế gia đình và chăm sóc con mà thường xuyên uống rượu, dẫn đến vợ chồng nhiều lần cãi nhau, anh Chảo Láo S đuổi chị ra khỏi nhà. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không đạt kết quả. Thời gian tháng 5 năm 2022, vợ chồng không sống chung, không ai quan tâm trách nhiệm đến ai. Đến nay, chị nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Chảo Láo S.

Về quan hệ con chung: Chị Lò San M xác định chị và anh Chảo Láo S có 03 con chung, cháu Chảo Tuấn M, sinh ngày 28 tháng 8 năm 20xx, cháu Chảo Thị H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 20xx và cháu Chảo Văn Th, sinh ngày 24 tháng 4 năm 20xx. Đề nghị Tòa án giải quyết giao cả ba con chung cháu Chảo Tuấn M, cháu Chảo Thị H và cháu Chảo Văn Th cho chị Lò San M quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Chảo Láo S phải cấp dưỡng nuôi con cho cháu Chảo Thị H hàng tháng 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản: Chị Lò San M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lò San M là chị Nông Thị Thúy H trình bày: Đề nghị Tòa án xem xét cuộc sống hôn nhân của vợ chồng anh Chảo Láo S và chị Lò San M mâu thuẫn không hạnh phúc và anh chị đã không sống chung từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm trách nhiệm đến ai để giải quyết cho chị Lò San M được ly hôn với anh Chảo Láo S.

Đề nghị Tòa án xem xét điều kiện khả năng chị Lò San Mẩy có khả năng nuôi con và các cháu có nguyện vọng được ở với chị Mẩy, hơn nữa anh Chảo Láo S thường xuyên vắng nhà nên điều kiện chăm sóc con chung sẽ không đảm bảo. Đề nghị giao cả 3 con chung cháu Chảo Tuấn M, sinh ngày 28 tháng 8 năm 20xx, cháu Chảo Thị H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 20xx và cháu Chảo Văn Th, sinh ngày 24 tháng 4 năm 20xx cho chị Lò San M trực tiếp nuôi dưỡng và anh Chảo Láo S cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Chảo Thị H hàng tháng số tiền là 2.000.000 đồng/tháng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về án phí: Đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các đương sự theo quy định pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án do anh Chảo Láo S thường xuyên vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh bằng hình thức niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh Chảo Láo S không có mặt tại Tòa, nên không lấy được ý kiến của anh Chảo Láo S.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành các thủ tục tố tụng đầy đủ đúng quy định pháp luật; Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò San M như sau.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò San M được ly hôn anh Chảo Láo S.

Về quan hệ con chung: Giao cháu Chảo Tuấn M, sinh ngày 28 tháng 8 năm 20xx, cháu Chảo Thị H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 20xx và cháu Chảo Văn Th, sinh ngày 24 tháng 4 năm 20xx cho chị Lò San M quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Chảo Láo S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cho cháu Chảo Thị H số tiền là 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Tuyên quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, miễn án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lò San M khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Chảo Láo S, có địa chỉ thôn Phù Lao Chảo, xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, về việc thành lập tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực. Xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai. Anh Chảo Láo S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và chị Lò San M có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò San M và anh Chảo Láo S tự nguyện kết hôn ngày 02 tháng 4 năm 20xx, tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Lào Cai) là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 20xx thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp bất đồng quan điểm, anh S thiếu sự tôn trọng chị, dẫn đến vợ chồng nhiều lần cãi nhau, thậm chí anh S đánh đuổi chị. Thời gian từ năm 2022, vợ chồng đã không sống chung, không ai quan tâm đến ai.

Từ nội dung nêu trên, chị Lò San M thừa nhận cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn kéo dài, nhiều năm vợ chồng không sống chung, hôn nhân không hạnh phúc. Điều đó cho thấy mục đích hôn nhân của anh Chảo Láo S và chị Lò San M không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Lò San M được ly hôn anh Chảo Láo S.

Về quan hệ con chung: Chị Lò San M xác định chị và anh Chảo Láo S có 03 con chung, cháu Chảo Tuấn M, sinh ngày 28 tháng 8 năm 20xx, cháu Chảo Thị H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 20xx và cháu Chảo Văn Th, sinh ngày 24 tháng 4 năm 20xx. Đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Chảo Tuấn M, cháu Chảo Thị H và cháu Chảo Văn Th cho chị Lò San M quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Chảo Láo S phải cấp dưỡng nuôi con cho cháu Chảo Thị H hàng tháng số tiền là 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy chị Lò San M có khả năng trông nom, chăm sóc con và các cháu đều có nguyện vọng được ở với chị M. Đối với anh Chảo Láo S là người thường xuyên vắng nhà nên không đảm bảo có thời gian chăm sóc, giáo dục các con chung. Do vậy, để đảm bảo các cháu ổn định sinh sống và học tập, nên giao các cháu Chảo Tuấn M, cháu Chảo Thị H, và cháu Chảo Văn Th cho chị Lò San M quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Đồng thời xem xét buộc anh Chảo Láo S có trách nhiệm cấp dưỡng cho cháu Chảo Thị H hàng tháng số tiền là 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu trưởng thành là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị Lò San M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Hộ gia đình chị Lò San M và anh Chảo Láo S thuộc diện hộ nghèo, nên miễn cho các đương sự đối với khoản tiền án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về việc thành lập tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò San M như sau.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò San M được ly hôn anh Chảo Láo S. Quan hệ hôn nhân của chị Lò San M và anh Chảo Láo S được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

Về quan hệ con chung: Giao cháu Chảo Tuấn M, sinh ngày 28 tháng 8 năm 20xx, cháu Chảo Thị H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 20xx và cháu Chảo Văn Th, sinh ngày 24 tháng 4 năm 20xx cho chị Lò San M quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Chảo Láo S thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cho cháu Chảo Thị H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 20xx, số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở quyền này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải cấp dưỡng cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải cấp dưỡng, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Chị Lò San M được miễn án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và anh Chảo Láo S được miễn án phí sơ thẩm đối với khoản tiền cấp dưỡng số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các §iều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ