vanban.org

Bản án 38/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Viết C, anh Lê Viết C được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

[2]. Về con chung: Giao con chung Lê Viết K, sinh ngày 25/03/2023 cho anh Lê Viết C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Giao con chung Lê Thiên P, sinh ngày 04/11/2024 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Viết C"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Viết C, anh Lê Viết C được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HNGĐ-ST
Ngày 30-03-2026.
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Danh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đô.

Bà Võ Thị Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 12 - Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 12 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 246/2025/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Lê Viết C, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/09/2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Viết C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống với nhau và tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Piar, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai vào ngày 14/09/2022. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống thường nẩy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Lê Viết K, sinh ngày 25/03/2023, Lê Thiên P, sinh ngày 04/11/2024, sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Viết K cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung là Lê Thiên P cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Lê Viết C tự nguyện chung sống với nhau và tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Piar, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai vào ngày 14/09/2022, trong cuộc sống hôn nhân anh chị thường xảy ra mâu thuẫn, do tính cách khác nhau, không thống nhất được với nhau trong công việc, nuôi dạy con cái, hiện nay anh C yêu cầu ly hôn với chị thì chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh C.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Lê Viết K, sinh ngày 25/03/2023, Lê Thiên P, sinh ngày 04/11/2024, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Thiên P cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung là Lê Viết K cho anh Lê Viết C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Viết C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Theo đơn khởi kiện của anh Lê Viết C yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị H, nơi cư trú của chị Nguyễn Thị H tại thôn Đức Thiện, xã Bù Đăng, tỉnh Đồng Nai. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án “ Hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 12 – Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn, bị đơn có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

. Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: Xét thấy anh Lê Viết C và chị Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Piar, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai vào ngày 14/09/2022. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Viết C và chị Nguyễn Thị H là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Viết C thấy rằng: Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống thường nẩy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H, bị đơn chị Nguyễn Thị H cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh Lê Viết C. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lê Viết C và chị Nguyễn Thị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Viết C là phù hợp.

Xét nguyện vọng nuôi con của anh Lê Viết C và chị Nguyễn Thị H thấy rằng: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Lê Viết K, sinh ngày 25/03/2023, Lê Thiên P, sinh ngày 04/11/2024, sau khi ly hôn anh Lê Viết C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Viết K cho đến khi thành niên. Giao con chung là Lê Thiên P cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Chị Nguyễn Thị H cũng có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Thiên P cho đến khi thành niên, giao con chung là Lê Viết K cho anh Lê Viết C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ, do đó cần giao con chung là Lê Viết K cho anh Lê Viết C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, giao con chung là Lê Thiên P cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Viết C và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh Lê Viết C phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ và số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011351 ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84; Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Viết C, anh Lê Viết C được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

[2]. Về con chung: Giao con chung Lê Viết K, sinh ngày 25/03/2023 cho anh Lê Viết C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Giao con chung Lê Thiên P, sinh ngày 04/11/2024 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Viết C và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[4]. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Anh Lê Viết C phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ và số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011351 ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ