vanban.org

Bản án 38/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng - Nguyễn Hoàng P"
  • Tòa quyết gì? Các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng;
  • Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/DS-ST
Ngày: 05/3/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Lê.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Sơn Tây;

2. Ông Tống Văn Tâm.

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 120/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 16/2026/QĐST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 32/2026/QĐST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2026; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ trụ chính: 68 N, phường S, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên hệ: số 2, T, phường C, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là phường M, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Nguyễn Huỳnh Thảo Y, sinh năm 1993; căn cước công dân số: xxxxxxxxx…; địa chỉ: tổ 60, khu phố 3, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền ngày 27/11/2025); có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxx…; địa chỉ: tổ 3, khu 2, xã T, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Huỳnh Thảo Y trình bày:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/8/2022 được ký giữa Ngân hàng TMCP S - Phòng giao dịch Thủ Dầu Một (sau đây viết tắt Ngân hàng) và ông Nguyễn Hoàng P. Theo đó, cùng ngày 04/8/2022, ông P được Ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng với số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), với mục đích tiêu dùng, lãi suất 29,8%/năm, khoản vay không có tài sản đảm bảo.

Đến ngày 05/02/2025, ông Nguyễn Hoàng P vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, toàn bộ khoản vay 100.000.000 đồng đã chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần trao đổi, làm việc và tạo mọi điều kiện để ông P tìm nguồn tiền thanh toán vốn vay, các khoản lãi phát sinh tại Ngân hàng. Tuy nhiên, ông P vẫn không thực hiện thanh toán theo đúng các cam kết với Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hoàng P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/11/2025 là 159.225.669 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi chín đồng); trong đó, tiền nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh 59.225.669 đồng. Ngoài ra, ông Phúc còn phải thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi quá hạn, lãi phạt theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 28/11/2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Hoàng P theo đúng quy định pháp luật nhưng ông Phúc không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Nguyễn Hoàng P yêu cầu thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng P có nơi cư trú tại khu phố Đ, phường Vĩnh Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là loại việc về Tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình tố tụng, Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét thấy, bị đơn vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Hoàng P và đại diện nguyên đơn.

Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hoàng P phải thanh toán tổng số tiền là 159.225.669 đồng; trong đó, tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 59.225.669 đồng. Hội đồng xét xử thấy:

Ngày 04/8/2022, ông Nguyễn Hoàng P và Ngân hàng TMCP S - Phòng giao dịch Thủ Dầu Một ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với hạn mức 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Hợp đồng nêu trên thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hoàng P được Ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) với mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 29,8%/năm, khoản vay không có tài sản đảm bảo. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án, ông P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc đã thanh toán một phần hay toàn bộ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng. Căn cứ theo lịch sử thanh toán của ông P tại Ngân hàng thể hiện tính đến ngày 27/11/2025, ông P còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 159.225.669 đồng; trong đó, tiền nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh 59.225.669 đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện là có cơ sở theo quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc ông Nguyễn Hoàng P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 159.225.669 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi chín đồng); trong đó, tiền nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh 59.225.669 đồng.

Kể từ ngày 28/11/2025 cho đến khi thi hành xong, ông Nguyễn Hoàng P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thoả thuận tại hợp đồng tín dụng đã giao kết giữa các bên.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Hoàng P phải chịu số tiền 7.961.000 đồng (Bảy triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 3.354.000 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0021045 ngày 29/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ