- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quóc Lâm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày: 28 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN, TỈNH HƢNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thúy Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hệ và Ông Phạm Minh Đức.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Nam Hải - Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28/3/2025, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2025/HSST ngày 03/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quốc L, sinh năm 1996. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi ở hiện nay: số F, đường T, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Trần Đình C. Họ tên mẹ: Đào Thị T. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba. Vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. (Có mặt ).
*Người làm chứng: Anh Trần Xuân G, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn D, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 50 phút ngày 08/01/2025, tại khu vực đường trục thôn D, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an xã Q - thành phố H, bắt quả tang đối với Trần Quốc L đang có hành vi tàng trữ 01 túi nilon màu trắng, có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất màu trắng dạng tinh thể ở trong túi áo bên trái phía trước L đang mặc trên người. L khai chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, L cất giấu với mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: 01 túi ni lon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ bên trong có chứa chất màu trắng dạng tinh thể đã được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín.
Ngày 08/01/2025, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật đối với Trần Quốc L ở số F, đường T, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Quá trình điều tra Trần Quốc L khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 08/01/2025, L đi bộ một mình từ nhà ở số F, đường T, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đến thôn B xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên với mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây L gặp 01 người đàn ông không quen biết, không rõ thông tin về nhân thân, khoảng 40 tuổi, dáng gầy, mặc quần áo tối màu. Do là người nghiện ma túy nên L biết được người này bán ma túy. L hỏi mua 300.000 đồng ma túy của cuả người đàn ông, người này đồng ý, L liền đưa 300.000 đồng thì người đàn ông đưa lại cho L 01 túi nilon màu trắng, có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất màu trắng dạng tinh thể. Do L là người đã sử dụng ma túy nên L xác định được chất màu trắng dạng tinh thể trong túi nilon là ma túy đá. L cất túi nilon ma túy vào trong túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc trên người rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường trục thôn D, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên thì tổ công tác Công an xã Q - TP H, kiểm tra. L tự giác giao nộp 01 túi nilon màu trắng, có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất màu trắng dạng tinh thể. Bản Kết luận giám định số 12/KL-KTHS(MT) ngày 11/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong có khối lượng là 0,382 g là ma túy, loại Methamphetamine.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Trần Quốc L. Quá trình điều tra L khai là tình cờ gặp và mua ma túy của người đàn ông này, không biết tên, tuổi, địa chỉ và việc mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 38/CT-VKS-TPHY ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo Trần Quốc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bà Đào Thị T, là mẹ đẻ bị cáo có mặt tại phiên tòa trình bày bà T sinh năm 1970 đồng thời xuất trình căn cước công dân chứng minh về độ tuổi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 12/KL-KTHS (MT) ngày 11/01/2025 của Phòng K- Công an tỉnh H, bên trong có 0,374g ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an thành phố H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt không lý do, tại giai đoạn điều tra đã có lời khai đầy đủ, sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai bị cáo, biên bản ghi lời khai người làm chứng, kết luận giám định, biên bản xác minh tại chính quyền nơi bị cáo cư trú và các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Hồi 17 giờ 50 phút ngày 08/01/2025, tại khu vực đường trục thôn D, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Trần Quốc L có hành vi tàng trữ 0,382g ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi như đã nêu của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về hành vi và về tội danh nêu trên là có căn cứ, chính xác.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và các chất gây nghiện; đồng thời làm mất an ninh, trật tự công cộng tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Căn cứ vào hành vi phạm tội, cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; là người nghiện ma túy, nhận thức được việc sử dụng chất ma túy có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người sử dụng, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học chung cho mọi người.
Hình phạt bổ sung: bị cáo có thu nhập không ổn định, không có tài sản tích lũy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về biện pháp tư pháp: đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 12/KL-KTHS (MT) ngày 11/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, bên trong có 0,374g ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định đây là vật liên quan đến hành vi phạm tội, cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
[7]. Vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo: quá trình điều tra cơ quan công an không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ xử lý. [8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. [9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 293, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
3. Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/01/2025.
4. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 12/KL-KTHS (MT) ngày 11/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, bên trong có 0,374g ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục THADS thành phố H). 5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên; - CA, VKS, Chi cục THA TP. Hưng Yên; - Trại tạm giam CA tỉnh HY; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thúy Hà |