- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn tài chiến - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tài Ch phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH QU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2025/HSST Ngày: 09 - 4 – 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH QU
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan và bà Trương Thị Thuý Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: ông Lưu Minh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Qu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST -HS ngày 24/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 03/3/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Tài Ch, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1988 tại B, Qu; nơi cư trú: thôn Nam Bình, xã B, huyện B, tỉnh Qu; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn phổ thông: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tài Tr và bà Bùi Thị B; có vợ là Trần Thị L và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Trần Văn T, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn 13, xã X, huyện Th, tỉnh Th. Vắng mặt
+ Anh Phan Tất Th, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số 3-D4-Tt4 Bắc Linh Đàm, tổ 12, Đ, H, H. Vắng mặt
+ Công ty TNHH BOT đường tránh Th phố Đ; địa chỉ: Quốc Lộ 1A, xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Qu; đại diện theo pháp luật: ông Võ Minh H- Chủ tịch Hội đồng Th viên; Đại diện theo uỷ quyền: ông Trương Tấn L - Hạt trưởng đường tránh Th phố Đ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Văn Th, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn Diễn Th, xã Hợp Th, huyện Tr, tỉnh Th. Vắng mặt
+ Anh Bùi N, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn Tân Th, xã Kỳ Gi, huyện Kỳ A, tỉnh H. Vắng mặt
+ Công ty TNHH TMDV Vận tải Th; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Qu; đại diện theo pháp luật: ông Huỳnh Văn Th - Giám đốc. Có mặt
- Người làm chứng: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn Tân Thắng, xã Kỳ G, huyện Kỳ A, tỉnh H. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/7/2024, Nguyễn Tài Ch điều khiển xe ô tô tải BKS 76C-060.68 chở động vật di chuyển theo hướng Nam - Bắc. Khi đến Km 655+700m đường QL1A tuyến đường tránh Th phố Đồng Hới, tỉnh Qu thuộc địa phận xã Lý Trạch, huyện B, tỉnh Qu thì dừng lại ở trạm rửa xe phía ngoài bên trái đường (theo hướng Nam - Bắc) để tắm cho heo. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Ch điều khiển xe ô tô tải BKS 76C – 060.68 đi từ trạm rửa xe nói trên ra đường QL1A tuyến đường tránh Th phố Đồng Hới để tiếp tục di chuyển ra Bắc. Tại thời điểm này, có xe ô tô đầu kéo BKS 36H - 031.55 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 36R - 029.24 chở gỗ keo do anh Lê Văn Th điều khiển di chuyển trên đường QL1A tuyến đường tránh Th phố Đồng Hới theo hướng Nam - Bắc đang đi đến. Dù đã quan sát thấy có xe ô tô BKS 36H - 031.55 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 36R - 029.24 đang di chuyển đến, nhưng do chủ quan Ch nghĩ kịp để chuyển hướng đi sang chiều đường bên phải (theo hướng Nam – Bắc), nên đã điều khiển phương tiện di chuyển từ phía ngoài bên trái đường qua chiều đường bên phải (theo hướng Nam - Bắc) thì xảy ra va chạm giữa phần đầu bên trái đầu xe ô tô đầu kéo BKS 36H - 031.55 với phần dưới Th thùng hàng bên phải, phần trước chắn bùn sau bên phải, khung bảo vệ thân xe bên phải xe ô tô tải BKS 76C – 060.68 theo hướng từ sau tới trước, từ phải sang trái so với trục dọc của xe ô tô tải BKS 76C - 060.68. Sau khi xảy ra va chạm, xe ô tô đầu kéo BKS 36H – 031.55 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 36R - 029.24 bị ngã lật sang phải rồi va chạm vào hàng rào hộ lan hai bên đường, các thanh gỗ keo chở trên xe rơi xuống va vào xe ô tô BKS 30S
- 6165 do anh Bùi N đang di chuyển trên đường theo hướng Bắc-Nam. Hậu quả: 03 phương tiện bị hư hỏng, hàng rào hộ lan hai bên đường bị hư hỏng, không có thiệt hại về người.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị thiệt hại đối với xe ô tô BKS 30S - 6165 là 20.109.000 (Hai mươi triệu một trăm linh chín nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị thiệt hại đối với xe ô tô đầu kéo BKS 36H - 031.55 và sơ mi rơ móc BKS 36R - 029.24 là 71.320.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị thiệt hại đối với xe ô tô BKS 76C - 060.68 là 50.050.000 đồng (Năm mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 117/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị thiệt hại đối với phần tài sản bị hư hỏng tại đoạn đường xảy ra vụ TNGT là 52.392.000 đồng (Năm mươi hai triệu ba trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thu giữ và xử lý trả lại: 01 xe ô tô BKS 76C - 060.68, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004793, BKS đăng ký: 76C - 060.68 mang tên Cty TNHH TM DVVT Trường Th và 01 xe ô tô BKS 30S-6165 cho ông Huỳnh Văn Th; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang số 310156005812 mang tên Bùi N, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, No: BD1016639, BKS đăng ký: 30S - 6165 có hiệu lực đến ngày 10/12/2024 do Công ty Cổ phần đăng kiểm Hà Tĩnh cấp ngày 11/12/2023, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 113086, BKS đăng ký: 30S-6165, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số: 0001148965, BKS đăng kí 30S-6165 có hiệu lực đến ngày 11/12/2024 cho anh Bùi N; 01 xe ô tô đầu kéo BKS 36H-031.55; 01 sơ mi rơ móc BKS 36R-029.24, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, FC mang số 380098387136 mang tên Lê Văn Th, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cho anh Lê Văn Th. Tiếp tục tạm giữ theo hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe số 510171002320, hạng C, mang tên Nguyễn Tài Ch.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ch và ông Huỳnh Văn Th - là chủ xe ô tô BKS 76C
- 060.68 đã thỏa thuận dân sự và đã bồi thường thiệt hại cho anh Bùi N (là người được chủ xe ô tô BKS 30S – 6165 ủy quyền giải quyết liên quan đến vụ TNGT) số tiền 20.000.000 đồng; Bồi thường cho anh Lê Văn Th (là người được chủ xe ô tô đầu kéo BKS 36H - 031.55 và sơ mi rơ móc BKS 36R - 029.24 ủy quyền giải quyết liên quan đến vụ TNGT) số tiền 85.000.000 đồng; đã khắc phục công trình bị hư hỏng cho Công ty TNHH BOT đường tránh Th phố Đồng Hới. Đối với phần thiệt hại của xe ô tô BKS 76C - 060.68 ông Huỳnh Văn Th không yêu cầu Nguyễn Tài Ch bồi thường. Các bên liên quan đã thống nhất phần dân sự với nhau và không còn yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT - VKSBT ngày 22 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Qu đã truy tố bị cáo Nguyễn Tài Ch về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Tài Ch từ 18 - 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử trả lại cho Nguyễn Tài Ch 01 GPLX hạng C số 510171002320 do Sở Qu cấp ngày 28/11/2022.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường đầy đủ không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Sau phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tài Ch đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ch bị cáo mức hình phạt thấp, bị cáo phạm tội lần đầu, thiệt hại đã được khắc phục cho các bên liên quan. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan T hành tố tụng và người T hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng tuy nhiên, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án, vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người này.
Về xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tài Ch đều thống nhất khai nhận: ngày 27/7/2024 tại khu vực đường tránh Th phố Đồng Hới thuộc địa phận xã Lý Trạch, huyện B, tỉnh Qu bị cáo Ch đã điều khiển xe ô tô tải BKS 76C - 060.68 chuyển hướng không đảm bảo an toàn, đi không đúng làn đường, phần đường quy định nên đã va chạm với ô tô đầu kéo BKS 36H - 031.55 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 36R - 029.24 chở gỗ keo do anh Lê Văn Th điều khiển. Sau khi xảy ra va chạm, xe ô tô đầu kéo BKS 36H - 031.55 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 36R - 029.24 bị ngã lật sang phải rồi va chạm vào hàng rào hộ lan hai bên đường, các thanh gỗ keo chở trên xe rơi xuống va vào xe ô tô BKS 30S - 6165 do anh Bùi N điều khiển đang di chuyển trên đường theo hướng Bắc-Nam, gây thiệt hại về tài sản là 143.821.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của Nguyễn Tài Ch vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tài Ch phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra trong vụ án này thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng cho những người đang tham gia giao thông trên tuyến đường Bắc Nam xảy ra tai nạn mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng về tài sản. Là một lái xe, đã được học Luật Giao thông đường bộ, đã được sát hạch và cấp giấy phép lái xe theo quy định, bị cáo có đầy đủ khả năng để nhận thức được khi điều khiển phương tiện giao thông, đặc biệt là phương tiện có nguồn nguy hiểm cao độ như xe ôtô thì phải tuyệt đối tuân thủ các quy định Luật Giao thông đường bộ, hết sức tập trung để xử lý các tình huống trên đường. Tuy nhiên, do chủ quan, cẩu thả, bị cáo đã điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn, đi không đúng làn đường, phần đường quy định nên đã gây ra tai nạn dẫn đến thiệt hại về tài sản đối với các bị hại là 143.821.000 đồng, vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn, bị cáo cùng với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường thiệt hại, bị hại đã có đơn bãi nại, bị cáo đã từng có thời gian tham gia quân ngũ. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần ấn định cho bị cáo mức án hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rỏ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì vậy, không cần phải cách ly cải tạo, giáo dục bị cáo, mà cần áp Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phù hợp với tinh thần nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định từ 1 đến 5 năm. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho chủ xe ô tô BKS 30S – 6165; bồi thường 85.000.000 đồng cho chủ xe ô tô đầu kéo BKS 36H - 031.55 và sơ mi rơ móc BKS 36R - 029.24 và đã khắc phục công trình bị hư hỏng cho Công ty TNHH BOT đường tránh TP Đồng Hới. Đối với phần thiệt hại của xe ô tô BKS 76C - 060.68 ông Huỳnh Văn Th không yêu cầu bị cáo bồi thường. Cho đến tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm bồi thường của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.
Đối với việc xe ô tô BKS 76C - 060.68 chở hàng vượt trọng tải cho phép tham gia giao thông là 33,17%: Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã đề nghị Phòng CSGT Công an tỉnh Qu xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tài Ch và Công ty TNHH TMDV vận tải Th.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Nguyễn Tài Ch 01 GPLX hạng C số 510171002320 do Sở giao thông tỉnh Qu cấp ngày 28/11/2022.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tài Ch phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Phạt bị cáo Nguyễn Tài Ch 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/4/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Tài Ch cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Qu giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
5. Về xử lý vật chứng: trả lại cho Nguyễn Tài Ch 01 GPLX hạng C số 510171002320 do Sở giao thông tỉnh Qu cấp ngày 28/11/2022.
6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tài Ch phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với những người có mặt và trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết đối với người vắng mặt.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Qu; - VKSND tỉnh Qu; - Sở Tư pháp tỉnh Qu; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Qu; - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã B; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Hồng Thắm |