vanban.org

Bản án 38/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 29/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Dương P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Dương P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Dương P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 3 - TÂY NINH
Bản án số: 38/2025/HS-ST.
Ngày: 29-8-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Dũng.

Các Hội thẩm Nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Lợi;

2. Ông Nguyễn Chí Lin.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST-HS, ngày 13 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Dương P, sinh năm 1990 tại tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh); Nơi cư trú: Ấp Hòa Hiệp 2, xã Hiệp H, huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là ấp Hòa Hiệp 2, xã Hiệp H, tỉnh Tây Ninh); Chỗ ở hiện nay: Ấp An T, xã An Ninh T1, huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là ấp An T, xã An N, tỉnh Tây Ninh); Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Phan Hồ N1, sinh năm 1966 (sống); Họ và tên mẹ: Dương Thị L, sinh năm 1966 (sống); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo Phan Dương P bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-12-2024 cho đến nay tại Phân Trại tạm giam khu vực II, Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Tây Ninh (bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đặng Hoài L1, sinh năm 1991; (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Lộc T, xã Lộc G, huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là ấp Lộc T, xã An N, tỉnh Tây Ninh).

2. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2000; (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp An H, xã An Ninh T1, huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là ấp An H, xã An N, tỉnh Tây Ninh ).

- Người chứng kiến: Anh Hồ Linh G, sinh năm 1982 (vắng mặt) và anh Lê Văn T2, sinh năm 1991 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020, Phan Dương P bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy và thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 08 giờ ngày 02-12-2024, P sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, số sim 0947549238 gọi điện thoại cho anh Đặng Hoài L1 qua mạng xã hội Zalo tên L1 hỏi mua 01 bịch chất ma túy đá hộp mười, anh L1 đồng ý và yêu cầu P chuyển tiền trước cho anh L1. P chuyển số tiền 4.200.000 đồng vào tài khoản của anh L1 nhưng không ghi nội dung chuyển khoản. Đến khoảng 09 giờ 30 phút 02-12-2024, anh L1 đến nhà P thuộc ấp An T, xã An Ninh T1, huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là ấp An T, xã An N, tỉnh Tây Ninh) giao chất ma túy cho P. Sau khi P nhận chất ma túy từ anh L1, P sử dụng một phần, phần còn lại P dùng khăn giấy quấn lại và cất giấu trên tấm tole đậy chuồng gà phía sau bên trái nhà của P. Đến khoảng 21 giờ ngày 02-12-2024, Công an huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là Công an tỉnh Tây Ninh) tiến hành kiểm tra phát hiện 05 túi nylon có rãnh khép viền đỏ chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy nêu trên, P khai nhận là chất ma túy đá do P mua về cất giấu, mục đích để sử dụng.

Vật chứng còn tạm giữ gồm: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có tổng khối lượng: 9,3793 gam; 05 túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (đã qua sử dụng) kích thước mỗi túi nylon 8 cm x 5 cm; 04 túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (chưa qua sử dụng) kích thước 11 cm x 7 cm; 01 kéo bằng kim loại màu trắng, dài 15 cm; 01 ống thủy tinh màu trắng thẳng, kích thước 20 cm x 0,5 cm; 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước: 20 cm x 0,5 cm; 01 bình kim loại màu đen hình trụ, có nắp đậy, kích thước 19 cm x 5 cm, trên bình có dòng chữ, Blue Sky lighter Gas; 01 bật lửa bằng nhựa đã qua sử dụng, dài 06 cm; 02 tờ giấy trắng được vò thành cục tròn; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, số sim 0947549238.

Tại Kết luận giám định số 7419/KL-KTHS, ngày 11-12-2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Tinh thể màu trắng đựng trong 05 túi nylon được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng: 9,4168 gam. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có tổng khối lượng: 9,3793 gam”.

Tại Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSKV3 ngày 08-8-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phan Dương P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Phan Dương P gây ra; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phan Dương P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Dương P từ 07 năm đến 08 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 03-12-2024.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử, gồm: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có tổng khối lượng: 9,3793 gam; 05 túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (đã qua sử dụng) kích thước mỗi túi nylon 8 cm x 5 cm; 04 túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (chưa qua sử dụng) kích thước 11 cm x 7 cm; 01 kéo bằng kim loại màu trắng, dài 15 cm; 01 ống thủy tinh màu trắng thẳng, kích thước 20 cm x 0,5 cm; 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước: 20 cm x 0,5 cm; 01 bình kim loại màu đen hình trụ, có nắp đậy, kích thước 19 cm x 5 cm, trên bình có dòng chữ, Blue Sky lighter Gas; 01 bật lửa bằng nhựa đã qua sử dụng, dài 06 cm; 02 tờ giấy trắng được vò thành cục tròn;

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tài sản liên quan đến hành vi phạm tội: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, số sim 0947549238.

Đối với việc anh Nguyễn Văn C khai tháng 9-2024, anh C có mua của bị cáo 01 hộp mười ma túy dạng khay, với giá 8.000.000 đồng và anh C đã chuyển tiền cho bị cáo nhưng bị cáo không thừa nhận và không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý bị cáo về tội danh có liên quan.

Đối với việc bị cáo khai nhận số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép do bị cáo mua của anh Đặng Hoài L1. Tuy nhiên, kết quả điều tra anh L1 khai không bán chất ma túy cho bị cáo và không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý anh L1 về tội danh có liên quan.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đánh giá về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức H, tỉnh Long An và Công an tỉnh Long An (nay là Công an tỉnh Tây Ninh), Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến vắng mặt nhưng đã được cơ quan điều tra lấy lời khai để xác định sự thật vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng gì đến phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:

Hành vi khách quan của bị cáo Phan Dương P đã thực hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Dương P thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02-12-2024, tại nơi ở của Phan Dương P thuộc ấp An T, xã An Ninh T1, huyện Đức H, tỉnh Long An (nay là ấp An T, xã An N, tỉnh Tây Ninh), Phan Dương P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 9,4168 gam, loại Methamphetamine trên nóc chuồng gà tại vườn cây phía sau nhà nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an huyện Đức H, tỉnh Long An tiến hành kiểm tra phát hiện bắt giữ người cùng vật chứng để xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số: 7419/KL-KTHS, ngày 11-12-2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Tinh thể màu trắng đựng trong 05 túi nylon được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng: 9,4168 gam. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có tổng khối lượng: 9,3793 gam”.

Hội đồng xét xử đánh giá:

Xét lời khai nhận của bị cáo Phan Dương P trước tòa phù hợp với lời khai của những người chứng kiến; phù hợp với Biên bản khám xét do Công an huyện Đức H, tỉnh Long An lập lúc 00 giờ 30 phút ngày 03-12-2024; Kết luận giám định số: 7419/KL-KTHS ngày 11-12-2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận bị cáo Phan Dương P đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 9,4168 gam, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phan Dương P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ Luật Hình sự.

Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Phan Dương P là rất nguy hiểm, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự xã hội nên hành vi của bị cáo cần xử lý bằng pháp luật hình sự với mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh truy tố bị cáo Phan Dương P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Phan Dương P tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 9,4168 gam, loại Methamphetamine nên thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ Luật Hình sự là phù hợp.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phan Dương P không bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phan Dương P thành khẩn khai báo, có ý thức ăn năn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Từ đó, xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo nên không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Phan Dương P không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử, gồm: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có tổng khối lượng: 9,3793 gam; 05 túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (đã qua sử dụng) kích thước mỗi túi nylon 8 cm x 5 cm; 04 túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (chưa qua sử dụng) kích thước 11 cm x 7 cm; 01 kéo bằng kim loại màu trắng, dài 15 cm; 01 ống thủy tinh màu trắng thẳng, kích thước 20 cm x 0,5 cm; 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước: 20 cm x 0,5 cm; 01 bình kim loại màu đen hình trụ, có nắp đậy, kích thước 19 cm x 5 cm, trên bình có dòng chữ, Blue Sky lighter Gas; 01 bật lửa bằng nhựa đã qua sử dụng, dài 06 cm; 02 tờ giấy trắng được vò thành cục tròn.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tài sản liên quan đến hành vi phạm tội: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, số sim 0947549238.

Đối với việc anh Nguyễn Văn C khai tháng 9-2024, anh C có mua của bị cáo 01 hộp mười ma túy dạng khay, với giá 8.000.000 đồng và anh C đã chuyển tiền cho bị cáo nhưng bị cáo không thừa nhận và không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý bị cáo về tội danh có liên quan.

Đối với việc bị cáo khai nhận số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép do bị cáo mua của anh Đặng Hoài L1. Tuy nhiên, kết quả điều tra anh L1 khai không bán chất ma túy cho bị cáo và không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý anh L1 về tội danh có liên quan.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Dương P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Dương P 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03-12-2024.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Dương P 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29-8-2025) để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có tổng khối lượng: 9,3793 gam; 05 (năm) túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (đã qua sử dụng) kích thước mỗi túi nylon 8 cm x 5 cm; 04 (bốn) túi nylon màu trắng rãnh khép viền đỏ (chưa qua sử dụng) kích thước 11 cm x 7 cm; 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng, dài 15 cm; 01 (một) ống thủy tinh màu trắng thẳng, kích thước 20 cm x 0,5 cm; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, kích thước: 20 cm x 0,5 cm; 01 (một) bình kim loại màu đen hình trụ, có nắp đậy, kích thước 19 cm x 5 cm, trên bình có dòng chữ, Blue Sky lighter Gas; 01 (một) bật lửa bằng nhựa đã qua sử dụng, dài 06 cm; 02 (hai) tờ giấy trắng được vò thành cục tròn.

3.2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, số sim 0947549238.

Vật chứng đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 149-14/8/2025.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Dương P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phan Dương P có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Đặng Hoài L1 và anh Nguyễn Văn C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ