vanban.org

Bản án 38/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Thinh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST
Ngày 18-12- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Cường

Ông Trần Thành Vân

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân – Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Sông Mã – Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La

- Kiểm sát viên: Ông Lầu Bá Khải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Linh

- Cán bộ, chiến sĩ phân trại tạm giam Sông Mã: ông Lò Văn Sáng, ông Lò Văn Quynh, ông Trịnh Thanh Tùng, ông Lò Văn Khánh.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm, Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Sơn La và tại điểm cầu thành phần, phân trại tạm giam khu vực Sông Mã, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 24/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 05/12/2025 đối với:

- Bị cáo: Lò Văn Th; tên gọi khác: không, sinh năm 1979 tại xã Ch Kh, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Ỏ, xã Ch Kh, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn I, (đã chết) và bà Lò Thị Đ, sinh năm 1944; có vợ là chị Lò Thị T, sinh năm 1982 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2025 cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị Tươi, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Lò Thị T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Bản X, xã Ch Kh, tỉnh Sơn La, có mặt tại điểm cầu trung tâm.

2. Anh Sồng A CH, sinh năm 1987; nơi cư trú: bản Nong Phạ, xã Ch Kh, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 15 phút, ngày 20/8/2025, tại bản Nong Phạ, xã Ch Kh, tỉnh Sơn La Tổ Công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu Ch Kh phối hợp với Công an xã Ch Kh làm nhiệm vụ phòng chống ma túy đã phát hiện, bắt quả tang Lò Văn Th, có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người cùng vật chứng. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 29 viên nén màu hồng (Thinh khai nhận là Hồng phiến) và 01 xe mô tô Wave a biển kiểm soát 26C1- 175.25 xe đã qua sử dụng.

Ngày 20/8/2025 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định, kết quả: 29 viên nén màu hồng cân tịnh có khối lượng 2,92 gam, trích 05 viên có khối lượng 0,50 gam làm mẫu giám định ký hiệu T, vật chứng còn lại 24 viên có khối lượng 2,42 gam lưu kho ký hiệu T1.

Kết luận số 1005/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng của mẫu giám định là 0,50 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,92 gam, loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra bị can khai nhận như sau: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/8/2025 Thinh điều khiến xe mô tô 26C1-175.25 mang theo số tiền 300.000 đồng từ nhà đến bản Nong Phạ, xã Ch Kh để đi bẫy chim. Đến nơi bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, hỏi và mua được 01 gói nilon mầu xanh bên trong chứa 32 viên Hồng phiến với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Thinh cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về lán nương, trích ra 03 viên Hồng phiến dùng bật lửa, giấy bạc của bị cáo để sử dụng ma túy bằng hình thức đốt hít qua đường hô hấp vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy bị cáo vứt công cụ đi; còn 29 viên Hồng phiến bị cáo gói lại và cất giấu tại lán nương của gia đình và đi về nhà. Đến 07 giờ ngày 20/8/2025, Thinh tiếp tục điều khiển xe mô tô từ nhà lên lán nương ở bản Nong Phạ để lấy số ma túy cất giấu ngày 18/8/2025 nhằm mang về sử dụng. Sau khi lấy được số ma túy, Thinh cất giấu vào túi áo trước ngực bên phải đang mặc rồi điều khiển xe quay về. Khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, đi đến khu vực bản Nong Phạ, xã Ch Kh thì bị phát hiện và bị bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 24/11/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn Th về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lò Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị T: Chiếc xe máy bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là tài sản chung của vợ chồng, là phương tiện tài sản duy nhất gia đình, không biết việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị Lò Thị T.

Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Sồng A CH có ý kiến: Xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe xác định anh là chủ xe nhưng anh đã bán xe cách đây rất lâu, không nhớ bán cho ai. Việc mua bán xe không lập thành biên bản và không có người chứng kiến.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 04 năm 02 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, bên trong có một túi nilon màu xanh chứa 2,42 gam Methamphetamine; trả cho chị Lò Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen, BKS 26C1-175.25, xe đã qua sử dụng.

Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cùng có ý kiến: Nhất trí với phần luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt 04 năm tù để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 –Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của anh Sồng A CH: Hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của anh Sồng A CH. Việc anh Sồng A CH vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, không thay đổi, bổ sung nội dung gì, hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 20/8/2025; Kết luận giám định số 1005/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 15 phút, ngày 20/8/2025 tại bản Nong Phạ, xã Ch Kh, tỉnh Sơn La, bị cáo Lò Văn Th có hành vi cất giấu trái phép 2,92 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Lò Văn Th đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, có bố đẻ là ông Lò Văn Inh được Huân chương kháng chiến hạng Ba nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn từ 03 năm đến 05 năm tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng.

Vật chứng vụ án:

Đối với 01 phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, bên trong có một túi nilon màu xanh chứa 2,42 gam Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26C1-175.25. Chị Lò Thị T và bị cáo xác định là tài sản chung của vợ chồng, không biết việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Kết quả tra cứu Tra cứu xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng của vụ án khác là phương tiện tài sản duy nhất gia đình. Tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị Lò Thị T, cần chấp nhận.

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai là mua ma túy của một người đàn ông Mông vào ngày 18/8/2025 tại khu vực rừng bản Nong Phạ, xã Ch Kh, tỉnh Sơn La. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ để mở rộng điều tra là đúng quy định, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Ngày 20/8/2025, Đồn Biên phòng cửa khẩu Ch Kh phối hợp với Trạm y tế xã Ch Kh đã tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Lò Văn Th. Kết quả dương tính với chất ma túy. Tại biên bản xác minh ngày 21/8/2025 đã xác định Lò Văn Th không thuộc các trường hợp chủ thể quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Do đó Cơ quan điều tra không khởi tố bị cáo về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa xin miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về đề nghị của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo là bà Lường Thị Tươi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt 04 năm tù là chưa tương xướng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, bên trong có một túi nilon màu xanh chứa 2,42 gam Methamphetamine.

Trả cho chị Lò Thị T 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26C1-175.25.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La; biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng thi hành án dân sự khu vực 03 - Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo. Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 12 năm 2025).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 12 năm 2025).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần Bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể nhận được hoặc được tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ