vanban.org

Bản án 38/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Th H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 38/2025/HS-ST
Ngày: 11/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

2/ Bà Dƣơng Thị Bạn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 07 tháng 3 năm 2025 và ngày 11 ttháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành H, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: 144/1 khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nơi tạm trú: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Thanh H1; Bị cáo có vợ tên Trần Thị Lệ C; có 03 ngƣời con (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020); Căn cƣớc công dân số 074094002139 cấp ngày 25/4/2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18/9/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích theo Bản án số 306/2013/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2014, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 00097 ngày 26/12/2013 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến nay, có mặt.

- Nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1990; Nơi đăng ký HKTT: Tổ B, khu phố F, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

- Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Vĩnh L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Thành H là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/09/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, đen bạc, gắn biển số: 59N1-565.47 chạy đến gần trƣớc khách sạn H2, địa chỉ khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Tại đây, H gặp đối tƣợng tên T1 mua 02 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng với giá 400.000 đồng và cất giấu trong ngƣời rồi điều khiển xe mô tô chạy về nhà. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô gắn biển số: 59N1-565.47 chạy đến trƣớc nhà bỏ hoang trên đƣờng B 14 thuộc khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng thì lực lƣợng Công an phƣờng B tuần tra thấy nghi vấn nên yêu cầu H dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, H tự nguyện lấy trong túi áo khoác ra 02 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho lực lƣợng Công an phƣờng B, H khai nhận là ma túy mang theo mục đích để sử dụng một mình. Lực lƣợng Công an phƣờng B lập hồ sơ ban đầu, chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý.

Vật chứng tạm giữ:

- 02 (hai) gói nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng;

- 01 (một) túi nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI màu xanh dƣơng, sim số 0817.07.19.79;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, đen bạc, gắn biển số: 59N1-565.47;

- 01 (một) áo khoác màu xanh dƣơng, dài tay.

Kết luận giám định số 4151/KL-KTHS (MT) ngày 10/9/2024 của Phòng K1

- Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lƣợng/trọng lƣợng: 0,8025 gam (M1) và 0,1835 gam (M2), tổng khối lƣợng: 0,986 gam.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 02/9/2024 của Công an phƣờng B xác định Nguyễn Thành H dƣơng tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 40/CT-VKSTA ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thƣ niêm phong ghi vụ số 4151/PC09 của Phòng K1 Công an tỉnh B bên trong chứa ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) áo khoác màu xanh dƣơng, dài tay; 01 sim số 0817.07.19.79 của Nguyễn Thành H đã sử dụng vào việc phạm tội; 01 (một) biển số 59N1-565.47 do không còn giá trị sử dụng;

+ Đề nghị tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI màu xanh dƣơng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, đen bạc; số khung: RLCS5C6409Y116058, số máy: 5C64116060 do Nguyễn Thành H sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội.

Đối với đối tƣợng tên T1 (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thành H vào ngày 01/9/2024 tại khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh khu vực trên nhƣng không có thông tin đầy đủ đối tƣợng này nên sẽ tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận; Tại lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm đƣợc trở về với gia đình, làm ngƣời công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/09/2024, tại trƣớc nhà bỏ hoang trên đƣờng B thuộc khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Thành H có hành vi tàng trữ trái phép 0,8025 gam (M1) là ma túy, loại Methamphetamine và 0,1835 gam (M2) là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lƣợng/trọng lƣợng: 0,986 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Trong vụ án này, Nguyễn Thành H là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Vì vậy phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đƣợc chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) bì thƣ niêm phong ghi vụ số 4151/PC09 của Phòng K1 Công an tỉnh B bên trong chứa ma túy (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 (một) áo khoác màu xanh dƣơng, dài tay; 01 sim số 0817.07.19.79 của Nguyễn Thành H sử dụng vào việc phạm tội; 01 (một) biển số 59N1-565.47 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI màu xanh dƣơng của Nguyễn Thành H sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.

+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, đen bạc, gắn biển số: 59N1-565.47 do Nguyễn Thành H sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh đƣợc biết xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - bạc, số khung: RLCS5C6409Y116058, số máy: 5C64116060 có biển số: 61X1-5052 do ông Nguyễn Văn K đứng tên trên giấy đăng ký xe. Qua làm việc, ông K khai đã bán xe mô tô biển số: 61X1-5052 cho ngƣời khác (không rõ nhân thân, lai lịch) nhƣng không làm thủ tục sang tên đổi chủ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành trƣng cầu giám định số khung, số máy nhƣng không thay đổi. Thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, Nguyễn Thành H khai nhận xe mô tô gắn biển số: 59N1-565.47 do H mua của một ngƣời rao bán trên mạng xã hội từ năm 2017 và sử dụng đến khi bị bắt, do đó cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.

+ Đối với Biển số xe 59N1-565.47 qua tra cứu biển số do Công ty TNHH MTV X, địa chỉ: D T, phƣờng T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên, qua xác minh không có công ty tên Minh Q tại địa chỉ trên. Xét thấy biển số xe trên không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với đối tƣợng tên T1 (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thành H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh khu vực trên nhƣng không có thông tin đầy đủ đối tƣợng này nên sẽ tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/9/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thƣ niêm phong ghi vụ số 4151/PC09 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) áo khoác màu xanh dƣơng, dài tay; 01 (một) sim số 0817.07.19.79; 01 (một) Biển số xe 59N1-565.47.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI 9, màu xanh dƣơng và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu Đen - Bạc, số khung: RLCS5C6409Y116058, số máy: 5C64116060.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/01/2025).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành H phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ