vanban.org

Bản án 38/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 11/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST
Ngày: 11/4/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quyết Thắng và ông Lê Hải Dương.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện VKSND huyện Văn Giang, tỉnh Hƣng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 11/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 28/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đăng T. Sinh năm: 1990; Giới tính: Nam. HKTT, chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Đăng C; Họ và tên mẹ: Lê Thị H; Anh chị em ruột: có 3 người, bị cáo là thứ 3. Vợ: Nguyễn Thị T1; Con: Có 2 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Vũ Lê Diệu L, sinh ngày 28/11/2006 (Đã chết)

Địa chỉ: Thôn A H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Vũ Bá Q, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Khánh L1, sinh năm 2006 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện P, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đăng T sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú (HKTT): Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/10/2024 T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda, loại xe bán tải, màu trắng, biển số 29C – 452.64 đi từ Đại lộ S (khu đô thị V) để sang Đại lộ Bốn M (khu đô thị V) thuộc xã N, huyện V. Khi T đi đến khu vực ngã tư giao nhau với các đường Tô Quyền và đường nội khu (liền sát nhau), nhưng T không quan sát và không nhường đường cho một số phương tiện đi trên đường nội khu từ bên phải sang. T tiếp tục điều khiển xe đi vào khu vực ngã tư nói trên, nên đã dẫn đến đầu xe ô tô do T điều khiển đâm vào phía bên trái xe mô tô không có biển số, do chị Vũ Lê Diệu L, sinh ngày 28/11/2006, nơi thường trú: Thôn A H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển, chở sau là chị Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 19/02/2006, nơi thường trú: Thôn K, xã K, thành phố P, tỉnh Hà Nam, đi từ trong đường nội khu theo hướng từ xã N sang xã L. Sau khi tai nạn xảy ra thì các chị L và L1 đều bị văng ra khỏi xe mô tô và ngã xuống đường, xe mô tô nằm trong gầm phía trước của xe ô tô. Do hoảng sợ, nên T đã đạp nhầm vào chân ga làm xe ô tô tiếp tục di chuyển, đẩy xe mô tô khoảng 15m thì mới dừng lại được. Hậu quả: Chị L bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện V, sau đó chuyển đến Bệnh viện H2 - Hà Nội, đến ngày 19/10/2024 chị L tử vong; chị L1 bị thương nhẹ; xe ô tô và mô tô bị hư hỏng.

Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn nói trên, lực lượng Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện V đã kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của T và đưa T đến Trung tâm y tế huyện V để xét nghiệm chất ma túy. Kết quả xác định: Trong hơi thở của T không có nồng độ cồn và T âm tính với các chất ma túy.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra là ngã tư giao nhau giữa đường T và đường nội khu với đại lộ S (KĐT Vinhomes Oceapark 2) đi đại lộ Bốn M (KĐT Vinhome Oceanpark3). Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Cột biển báo cấm đi ngược chiều được dựng bên trong dải phần cách cứng phân chia hai làn đường trên đường T. Mép đường bên phải theo chiều đi đại lộ S đi đại lộ B Mùa là mép chuẩn. Dấu vết 1: Vết cày nằm trên mặt đường đại lộ Bốn Mùa có chiều phát triển đứt đoạn kéo dài theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ B Mùa kích thước (17,60m x 4cm x 1cm), đầu vết cách mép chuẩn 9,55m, cuối vết ra mép chuẩn 11,95m. Dấu vết 2: Vết cày nằm trên mặt đường đại lộ Bốn Mùa có chiều phát triển đứt đoạn theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ B Mùa kích thước (16,70m x 5cm x 1cm). Đầu vết cày này cách đầu dấu vết 1 khoảng cách 1,05m theo hướng đại lộ S đi đại lộ Bốn M, cách mép chuẩn 9,40m, điểm cuối vào mép chuẩn 11,75m. Dấu vết 3: Vết dịch nhầy màu đen nằm trên mặt đường đại lộ Bốn Mùa có chiều phát triển liên tục kéo dài theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ B Mùa kích thước (16,60m x 50cm x 3cm). Đầu cách dấu vết 1 khoảng cách 80cm theo hướng đại lộ S đi đại lộ Bốn M, cách mép chuẩn 10,10m; điểm cuối mép chuẩn 12m. Dấu vết 4: Vết mài mòn nằm trên mặt đường đại lộ Bốn Mùa có chiều phát triển kéo dài liên tục theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ B Mùa kích thước (7,50m x 15cm x 10cm). Đầu cách dấu vết 1 khoảng cách 10,90m theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ Bốn M, cách mép chuẩn 12,20m; điểm cuối vào mép chuẩn 13,10m. Dấu vết 5: Vết chất màu nâu đỏ bám dính trên mặt đường nằm trên mặt đường đại lộ Bốn Mùa có kích thước (60cm x 70cm). T2 cách đầu dấu vết 1 khoảng cách 13m theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ Bốn M, cách mép chuẩn 13,80m. Dấu vết 6: Xe ô tô biển số 29C-452.64 đỗ trên mặt đường đại lộ Bốn M, đầu xe hướng về đại lộ Bốn M, đuôi xe hướng đường đại lộ S. T2 bánh sau bên phải cách đầu dấu vết 1 khoảng cách 14m theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ Bốn M, cách ra mép chuẩn 11m; tâm bánh trước bên phải xe cách mép chuẩn 11,30m. Dấu vết 7: Xe mô tô không có biển số nằm trên mặt đại lộ B Mùa và nằm trong gầm, giữa hai bánh trước của xe ô tô biển số 29C-452.64 theo hướng nằm nghiêng sang phải. Đầu xe hướng vào mép đường bên trái (hướng về đuôi xe ô tô), đuôi xe hướng vào mép chuẩn. T2 bánh trước bên phải cách tâm trục bánh sau khoảng cách 55cm theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ Bốn M, cách ra mép chuẩn 11,70m; tâm trục bánh trước cách mép chuẩn 12,40m. Dấu vết 8: Đám mảnh vỡ nằm rải rác trên mặt đại lộ Bốn Mùa kích thước (16 x 6)m, tâm đám mảnh vỡ cách đầu dấu vết 1 khoảng cách 11m theo hướng từ đại lộ S đi đại lộ Bốn M, cách mép chuẩn 12,20m. Quá trình khám nghiệm thu dấu vết màu nâu đỏ (nghi là máu) được niêm phong trong phong bì dán kín ghi ký hiệu M1.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 29C-452.64 xác định: Tại ba đờ sốc bên trái phía trước bị bung lẫy khỏi vị trí ban đầu. Ba đờ sốc bên phải phía trước bị bung lẫy khỏi vị trí ban đầu, trên bề mặt còn để lại vết rách, nứt, trượt xước nhựa bám màng màu đen trắng có kích thước (80 x 58)cm, điểm gần nhất cách mặt đường 44cm. Đèn bi gầm bên phải bị đẩy dồn từ trước về sau từ phải qua trái. Ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng bên phải còn để lại vết nứt vỡ nhựa kích thước (45 x 23)cm, điểm gần nhất cách mặt đất 88cm. Góc bên trái mặt calăng phía trước bị bung lẫy khỏi vị trí ban đầu. Biểu tượng lô gô xe Mazda bị bung khỏi vị trí ban đầu. Tại biển số 29C – 452.64 gắn phía trước đầu xe bị đẩy dồn từ trước về sau, từ trái qua phải, bề mặt còn để lại vết trượt xước nhựa bám màng màu nâu trắng kích thước (28 x 0,5)cm, điểm gần nhất cách mặt đất 56cm, điểm xa nhất cách mặt đất 57cm. Tại mặt dưới phía trước ba đờ sốc còn để lại vết rách, nứt vỡ nhựa làm bong chóc lớp sơn màu trắng kích thước (20 x 10)cm, điểm gần nhất cách mặt đất 27cm. Mặt ngoài bánh lốp phía trước bên phải còn để lại vết mài mòn cao su có bám màng màu nâu đen kích thước (9 x 6)cm, điểm gần nhất cách chân van bơm hơi theo chiều ngược kim đồng hồ 37cm. Mặt phía trong ốp nhựa chắn bùn phía trước bên phải còn để lại vết rách nhựa kích thước (20 x 5)cm. Góc bên phải lắp capô còn để lại vết bẹp lõm, trên bề mặt còn để lại vết trượt xước bám màng màu nâu đen kích thước (40 x 3 x 1,5)cm. Quá trình khám phương tiện quản lý xe ô tô biển số 29C-452.64, 01 giấy đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường còn hiệu lực đến hết ngày 24/12/2024, giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô không biển số xác định: Góc bên phải yên xe còn để lại vết rách cao su, da kích thước (5 x 1)cm, điểm gần nhất cách đầu yên xe 30cm. Quai sách bên phải còn để lại vết trượt xước mài mòn cao su bám màng màu nâu đen kích thước (10 x 3)cm, điểm gần nhất cách đầu quai sách 3cm. Mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ bô xe còn để lại vết bẹp lõm, mài mòn kim loại bám màng màu nâu trắng, kích thước (38 x 7)cm, điểm gần nhất cách đầu ốp kim loại 3cm. Mặt ngoài bàn đạp cần số khởi động bên phải xe còn để lại vết mài mòn kim loại, bám màng màu nâu, kích thước (6 x 2)cm. Đầu bàn để chân phía sau, bên phải còn để lại vết mài mòn kim loại, làm bong chóc lớp sơn màu đen, để lộ lõi kim loại màu trắng bên trong, kích thước (2 x 1)cm. Phanh chân bên phải bị đẩy dồn từ trước về sau, từ phải qua trái, trên bề mặt còn để lại vết trượt xước bám màng màu nâu đen, kích thước (7 x 0,5) cm, điềm gần nhất cách đầu chân phanh 22cm. Mặt ngoài cánh yếm phía trước, bên phải để lại vết trượt xước, mài mòn nhựa, bám màng màu đen, trắng, vàng kích thước (53 x 4)cm, điểm gần nhất cách chân cánh yếm 19cm. Ốp mặt lạ phía trước đầu xe bị bung lẫy khỏi vị trí. Phần đầu xe bị đẩy dồn từ trước về sau, từ trái qua phải, thanh lõi sát tay cầm bên trái bị đẩy dồn từ dưới lên trên, từ trước về sau. Mặt gương chiếu hậu bên trái bị bung khỏi vị trí ban đầu, mặt trước còn để lại vết mài mòn nhựa, bám màng màu đen, kích thước (10 x 4)cm. Mặt phía dưới cao su tay nắm bên trái còn để lại vết rách mài mòn cao su, kích thước (11 x 3)cm. Ốp nhựa hệ thống điều khiển còi, đèn, xi nhan bên trái còn để lại vết rách, trượt xước nhựa, bám màng màu nâu đen, kích thước (12 x 7)cm. Công tắc xi nhan bị bung lẫy khỏi vị trí ban đầu còn được nối với xe bởi hệ thông dây dẫn điện. Ốp nhựa phía trước đầu xe bị đẩy dồn từ trước về sau, từ trái qua phải, trên bề mặt còn để lại vết rách, nứt vỡ, trượt xước nhựa, bám màng màu trắng đen, kích thước (45 x 20)cm. Ốp nhựa đèn xi nhan bên trái bị nứt vỡ, trên bề mặt còn để lại vết trượt xước, bám màng màu nâu trắng, kích thước (15 x 3)cm. Ốp nhựa đèn xi nhan phía trước bên phải còn để lại vết nứt vỡ, kích thước (15 x 3)cm. Ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng phía trước đầu xe bị vỡ, trên bề mặt còn đề lại vết trượt xước mài mòn nhựa, bám màng màu nâu đen, kích thước (15 x 13)cm. Mặt ngoài cánh yếm phía trước bên trái còn để lại vết rách nứt vỡ nhựa, trên bề mặt còn để lại vết trượt xước nhựa, bám màng màu nâu đen, kích thước (70 x 22)cm. Chắn bùn phía trước đầu xe còn để lại vết mài mòn nhựa, bám màng màu nâu trắng, kích thước (7 x 3)cm. Cần số bên trái bị đẩy dồn từ trái qua phải, trên bề mặt còn để lại vết trượt xước, bám màng nâu đen, kích thước (9 x 3)cm. Ốp kim loại mặt máy bên trái còn để lại vết trượt xước, bám màng màu nâu trắng, kích thước (3 x 2)cm. Ốp nhựa hộp xích bên trái còn để lại vết mài mòn nhựa, bám màng màu nâu trắng, kích thước (3 x 2)cm. T3 sắt bảo vệ hộp máy bên trái bị gãy lẫy đẩy dồn từ sau về trước. Ốp nhựa sườn xe bên trái còn để lại vết nứt rách trên bề mặt còn để lại vết trượt xước, bám màng màu nâu trắng, kích thước (25 x 18)cm. Càng sau bên trái bánh sau còn để lại vết trượt xước, bám màng nâu trắng, kích thước (9 x 0,5)cm. Chắn bùn phía dưới bánh trước còn để lại vết bẹp lõm, mặt ngoài còn để lại vết trượt xước bám màng màu trắng, kích thước (20 x 10)cm. Bộ giá để chân kèm chân chống phụ bị bung rời khỏi xe. Mặt dưới lốc máy còn để lại vết vỡ kim loại, kích thước (3 x 5)cm. Lắp nhựa hộp xích bên trái bị bung lẫy khỏi vị trí ban đầu. Hệ thống trục, mai ơ, vành bánh lốp phía sau bị đẩy từ phải qua trái. Cần kim loại phanh tay bên phải bị gãy mất mảnh không thể kiểm tra. Hệ thống phanh chân bị đẩy dồn từ trước về sau, từ phải qua trái bị kẹt không thể kiểm tra. Quá trình khám phương tiện quản lý 01 xe mô tô không đeo biển số.

Ngày 28/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V yêu cầu định giá để xác định giá trị thiệt hại đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen – bạc, không biển số và xe ô tô biển số 29C-452.64. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 81/BKL-ĐGTS ngày 30/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen – bạc, không biển số, thiệt hại 4.880.000 đồng; xe ô tô biển số 29C-452.64 màu trắng, nhãn hiệu Mazda BT-50 đã qua sử dụng, thiệt hại 3.700.000 đồng (Bút lục số 105 - 111).

Ngày 19/10/2024 Đ trật tự Công an huyện V tiến hành thu giữ 02 file video liên quan đến vụ tai nạn giao thông này (niêm phong ký hiệu V). Ngày 13/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định nội dung hình ảnh trong file video có bị cắt ghép chỉnh sửa hay không? Mô tả hình ảnh của 02 phương tiện tai nạn giao thông trong file video (theo giờ hiển thị trong video). Đặc biệt chú ý đèn tín hiệu của 02 phương tiện khi tham gia giao thông; việc di chuyển của 02 phương tiện trên phần đường, làn đường. Tốc độ của xe ô tô và xe mô tô trước khi xảy ra tai nạn là bao nhiêu. Tại bản kết luận giám định số 407/KL-KTHS (KTS) ngày 02/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video. Mô tả nội dung hình ảnh của 02 phương tiện trong file video tại Bản kết luận giám định cụ thể như sau:

I. File: D23-20241018173810.mp4. Thời điểm 12:38:38 ngày 18:10:2024 – Xuất hiện hình ảnh xe (dạng xe mô tô) và người đổ ra đường. Xe ô tô sơn màu trắng di chuyển từ phía trên màn hình xuống dưới màn hình (theo hướng trình chiếu video) phần đầu xe ô tô đẩy xe (dạng xe mô tô) và người trượt rê dưới đường, đèn xinhan bên trái của xe ô tô sáng nhấp nháy. Xe ô tô sơn màu trắng dừng lại ở phần đường phía bên phải màn hình (theo hướng trình chiếu video) lúc này xe (dạng xe mô tô) và người ở dưới gầm xe phía trước xe ô tô, phần đèn xinhan bên trái của xe ô tô sáng nhấp nháy.

II. File: D24-20241018173809.mp4. Xe (dạng xe mô tô) ký hiệu Xe 1, trên xe có một người điều khiển và một người ngồi phía sau. Xe ô tô sơn màu trắng ký hiệu Xe2. Thời điểm 12:38:36 ngày 18:10:2024: Xe 1 di chuyển từ phía bên trái màn hình sang phía bên phải màn hình (theo hướng trình chiếu video) vào ngã tư. Xe 2 di chuyển từ phía trên màn hình xuống phía dưới màn hình (theo hướng trình chiếu video) vào ngã tư; Thời điểm 12:38:37 ngày 18:10:2024: Xe 1 di chuyển từ phía bên trái màn hình sang phía bên phải màn hình (theo hướng trình chiếu video) vào ngã tư. Xe 2 di chuyển từ phía trên màn hình xuống phía dưới màn hình (theo hướng trình chiếu video) vào ngã tư. Xe 1 tiến sát vào đầu xe 2. Khi vào ngã tư cả hai xe tiến sát vào nhau và xảy ra va chạm; Thời điểm 12:38:38 ngày 18:10:2024: Khi xảy ra va chạm phần đầu xe 2 đẩy xe 1 và người trượt rê dưới đường, phần đèn xinhan bên trái của xe ô tô sáng nhấp nháy; Thời điểm 12:38:41 ngày 18:10:2024: Xe 2 dừng lại ở phần đướng phía bên phải màn hình (theo hướng trình chiếu video) lúc này xe 1 và người ở dưới gầm xe phía trước xe 2, phần đèn xinhan bên trái của xe 2 sáng nhấp nháy.

+ Không xác định được khoảng cách quãng đường di chuyển của xe ô tô và xe mô tô ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông nên không xác định được tốc độ của xe ô tô và xe mô tô trước khi xảy ra tai nạn giao thông là bao nhiêu.

H1 lại đối tượng giám định: 02 file video.

Ngày 19/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết của chị L. Kết quả khám nghiệm tử thi Vũ Lê Diệu L xác định: Vùng má bên phải cách đường giữa 6cm cách đường chân tóc mai phải 2cm có đám sây sát da bầm tím kích thước (6x5)cm. Vùng mũi hai bên nằm trên đường giữa có vết sây sát da bầm tím kích thước (4x3)cm. Vùng đỉnh thái dương bên phải sát đường giữa sát đỉnh vành tai phải có đám sưng nề bầm tím kích thước (18 x 17)cm. Trên đám này có vết mổ cũ hình vòng cung đỉnh vòng cung quay về phía bên trái kích thước (34 x 1,5)cm được khâu bằng 31 mũi chỉ rời. Kiểm tra thấy vùng đỉnh thái dương bên phải có diện khuyết xương kích thước (15 x 10)cm. Vùng ngực hai bên nằm trên đường giữa cách xương đòn trái 1cm rải rác có các vết bầm tím kích thước (26 x 24)cm. Vùng bụng căng chướng. Cánh tay, cẳng tay, mu bàn tay phải có vết sây sát da bầm tím kích thước (44 x 12)cm. Mặt sau cánh tay, khuỷu tay trái có vết sây sát da bầm tím kích thước (18 x 12)cm. Mu bàn tay trái có vết sây sát da bầm tím kích thước (12 x 8)cm. Mặt trước gối, cẳng chân phải có vết sây sát da bầm tím kích thước (12x9)cm. Cổ chân, mu bàn chân phải có vết bầm tím kích thước (10x6)cm. Mắt cá trong chân trái có vết bầm tím kích thước (9 x 8)cm. Vùng chân gáy hai bên nằm trên đường giữa cách chân tóc gáy 3cm có vết sây sát da bầm tím kích thước (8 x 4)cm. Mổ vùng đỉnh thái dương bên phải qua vết mổ cũ thấy tổ chức dưới da, có bầm tụ máu, khuyết xương hộp sọ kích thước (15 x 10)cm, tổ chức não xung huyết.

Tại bản kết luận giám định số 215/KLGĐTT-PC09 ngày 25/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chị Vũ Lê Diệu L chết là do: Chấn thương sọ não. Thể loại chết: Không tự nhiên.

Ngày 21/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V trưng cầu giám định về ma túy trong máu của tử thi Vũ Lê Diệu L. Kết luận giám định số 8118/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của V - Bộ C1 kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu máu ghi thu của tử thi Vũ Lê Diệu L gửi giám định.

Ngày 21/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trưng cầu giám định mẫu dấu vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường và mẫu máu thu của tử thi Vũ Lê Diệu L. Tại Bản kết luận giám định số: 8128/KL-KHTS ngày 02/12/2024 của V - Bộ C1, kết luận: Chất màu nâu đỏ bám dính trên mặt đường (ký hiệu M1) gửi giám định là máu của Vũ Lê Diệu L. Lưu kiểu gen (theo bộ kít GlobalFiler) của Vũ Lê Diệu L tại V, Bộ C1.

Ngày 30/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với chị L1. Tuy nhiên chị L1 xác định thương tích không đáng kể và cũng đã khỏi, sức khoẻ bình thường, nên đã từ chối giám định.

Quá trình điều tra T khai nhận: T chưa được đào tạo lái xe qua bất cứ cơ sở đào tạo nào, nên chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định (Cơ quan CSĐT tiến hành tra cứu tại Sở giao thông Vận tải tỉnh T về việc cung cấp thông tin giấy phép lái xe của Nguyễn Đăng T. Kết quả không thấy thông tin giấy phép lái xe). Mục đích T mua xe ô tô để đi lại nhưng chưa đi học lái xe. Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda, loại xe bán tải, màu trắng, biển số 29C – 452.64, là của T mua của công ty TNHH MTV N3, chiếc xe đăng ký xe mang tên anh Phan Huy N1, sinh ngày 23/6/1992, nơi thường trú: 4B phố N, phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội. Anh N1 cũng xác định chiếc xe đã bán cho người khác vào khoảng tháng 8 năm 2023. Kết quả tra cứu không có trong dữ liệu xe vật chứng. Ngày 16/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cho Nguyễn Đăng T.

Chiếc xe mô tô không biển số do chị L điều khiển là xe do ông Vũ Bá Q sinh năm 1978, HKTT: Xóm A, thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (là bố của chị Vũ Lê Diệu L), bỏ tiền ra mua nhưng nhờ ông Vũ Văn N2, địa chỉ: Tổ E, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội (là em của ông Q) đứng tên trên giấy đăng ký ngày 21/10/2024 biển số 29BH-144.92 (vì ông N2 có hộ tại TP Hà Nội và hiện nay ông N2 đã chết). Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên không có trong dữ liệu của xe vật chứng. Ngày 18/10/2024, ông Q để xe cùng chìa khoá xe ở nhà và chị L đã tự ý lấy xe để đi thì ông Q không biết. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với ông Q về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Ngày 16/01/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Q.

Về trách nhiệm dân sự: T đã bồi thường cho gia đình chị Vũ Lê Diệu L số tiền 402.000.000 đồng; bồi thường cho chị Nguyễn Thị Khánh L1 số tiền 18.500.000 đồng, ông Q (là đại diện người bị hại chị L) và chị L1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho T.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSVG ngày 11/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Đăng T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

- Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

. Về hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận định giá tài sản bị hư hỏng, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/10/2024, tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường nối hai khu đô thị V sang Khu đô thị V với đường nội khu của Khu đô thị V. Nguyễn Đăng T không có giấy phép lái xe theo quy định, đã điều khiển xe ô tô biển số 29C – 452.64 đi từ Khu đô thị V sang Khu đô thị V, nhưng không quan sát và không nhường đường cho xe mô tô do chị Vũ Lê Diệu L điều khiển chở sau là chị Nguyễn Thị Khánh L1 đang đi trên đường nội khu từ bên phải sang, dẫn đến đầu xe ô tô do T điều khiển đâm đã vào bên trái xe mô tô nói trên. Hậu quả: Chị L bị thương nặng được đưa đi cấp cứu nhưng đến ngày 19/10/2024 thì chị L tử vong; chị L1 bị thương nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại là 4.880.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật Hình sự bảo vệ.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên bị cáo chưa được cấp giấy phép lái xe ô tô theo quy định mà đã điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đến khi vực ngã tư là nơi giao nhau của nhiều phương tiện di chuyển theo nhiều hướng khác nhau, không có báo hiệu đi theo vòng xuyến. Theo quy định bị cáo phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường cho xe đi đến từ bên phải nhưng bị cáo đã không chấp hành, không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe mô tô của chị L chở theo chị L1 đang đi từ bên phải đến gây tai nạn là vi phạm vào khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 24 của Luật giao thông đường bộ. Hậu quả làm chị L bị thương nặng tử vong, chị L1 bị thương tích nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thuộc các trường hợp “Làm chết người”,“Không có giấy phép lái xe theo quy định” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và được họ xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo có bố đẻ được chủ tịch nước tặng huân chương chiến công hạng nhì, có đơn xin cải tạo tại địa phương được UBND xã nơi bị cáo thường trú xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đây là lần đầu phạm tội do lỗi vô ý nên sẽ khoan hồng, xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, cho bị cáo một cơ hội được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại L số tiền 402.000.000đồng. Đại diện gia đình bị hại ông Vũ Bá Q đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Khánh L1 số tiền 18.000.000đồng, chị L1 không yêu cầu phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda, loại xe bán tải, màu trắng, biển số 29C – 452.64 là tài sản hợp pháp của bị cáo T; chiếc xe mô tô biển số 29BH-144.92 là tài sản hợp pháp của ông Vũ Bá Q, đều không có trong dữ liệu của xe vật chứng. Ngày 16/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại những tài sản này cho bị cáo T và ông Q là phù hợp nên không giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Các vấn đề khác: Ngày 18/10/2024, ông Vũ Bá Q để xe cùng chìa khoá xe ở nhà, chị L đã tự ý lấy xe để đi, ông Q không biết. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với ông Q về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

- Điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Điều 135; Điều 136; khoản 1 Điều 292; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/4/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Đăng T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ