vanban.org

Bản án 38/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 09/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025). Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Tài cùng đồng phạm Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST
Ngày: 09 - 4 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đình Tùng và bà Lê Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/HSST-QĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đinh Văn T - sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn ĐB, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tiến Th (đã chết) và bà Trịnh Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị Ng và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Văn S - sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn LN, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M và bà Trần Thị L (đã chết); có vợ là Đinh Thị M1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Trương Văn Kh - sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn SN, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Th1 và bà Nguyễn Thị L1 (đều đã chết); có vợ là Lê Thị Thu Th2 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Văn Q - sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn THĐV, xã TNg, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến L3 và bà Đinh Thị Th3; có vợ là Phạm Thị L4 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

5. Vũ Văn N - sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn NK, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Viết C và bà Nguyễn Thị Th4 (đã chết); có vợ là Đinh Thị H và có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Văn Ch - sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn BL, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L3 và bà Vũ Thị Q; có vợ là Đinh Thị X và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 18/12/2006, Công an huyện TL, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 200.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

7. Đinh Trọng D - sinh năm 1985; nơi cư trú: Xóm 4 PĐ, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Trọng Đ1 và bà Vũ Thị M; có vợ là Trần Thị H1 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

8. Đinh Tiến S - sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn ĐB, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công Khoa và bà Đinh Thị Q1; có vợ là Trịnh Thị Kh và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không, bị cáo hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Dương Tiến Th1; vắng mặt.

2. Anh Phạm Công Q; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/01/2025, Đinh Văn T, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn S và Đinh Tiến S (đều là công nhân Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Long) cùng rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng” và thống nhất cách thức chơi cụ thể như sau: các đối tượng sử dụng 52 quân bài tú lơ khơ có thứ tự từ: A (át), 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, mỗi loại quân bài này có 4 chất, trong đó quy ước thứ tự các chất từ lớn nhất đến nhỏ nhất lần lượt là Rô, Cơ, Tép, Bích. Để đánh bạc, đầu tiên một người chia đều cho mỗi người chơi 03 quân bài rồi đọ điểm, ai có bài lớn nhất sẽ cầm cái. Trong từng ván bài, mỗi người chơi phải bỏ ra 20.000 đồng, gọi là tiền vào “Gà”, người cầm cái chia đều cho mỗi người chơi 03 quân bài. Sau khi lên bài, người nào tham gia chơi tiếp thì “Tố” thêm một lượt nhưng không được quá 200.000 đồng; người tố đầu tiên là người cầm cái và lần lượt tố theo chiều ngược kim đồng hồ, ai không chơi thì bỏ lượt, úp bài xuống chiếu. Khi “Tố” xong thì đọ điểm, bài của người chơi lớn nhất (kể cả về chất bài) sẽ thắng và được hưởng toàn bộ số tiền “Gà” và tiền “Tố” thêm, người thắng sẽ được cầm cái ở ván bài tiếp theo. Các đối tượng quy ước, bài lớn nhất được tính theo thứ tự: lớn nhất là bài “Sáp” có 03 quân bài cùng loại (lớn nhất trong dòng “Sáp” là 03 quân “A”, nhỏ nhất là 03 quân “2”); tiếp đến là bài “Liêng” có 03 quân bài thứ tự liền kề nhau (lớn nhất là “QKA”, nhỏ nhất là “A23”; tiếp đến là bài “Đĩ” tức là bài có các quân J, Q hoặc K nhưng không tạo thành “Sáp” hoặc “Liêng” (lớn nhất là “KKQ”, nhỏ nhất là “JJQ”); sau cùng là bài “Tính điểm”, người chơi cộng 03 quân bài với nhau, bài 09 điểm là lớn nhất, trong đó A (át) được tính 01 điểm, các quân bài từ 10 đến K tính 0 điểm. Ngoài ra, các đối tượng còn thống nhất nếu ai được bài “Đồng Hoa” (là 3 quân bài liên tiếp nhau cùng chất) lớn nhất thì thắng và được hưởng 60.000 đồng của những người còn lại. Tương tự, nếu ai được “Sáp” lớn nhất thì thắng và được hưởng 100.000 đồng của những người còn lại. Sau đó, T, Ch, D, Q, S và S cùng đi vào Phòng nghỉ công nhân số 20 của Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Long, thuộc thôn BL, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam và ngồi xuống chiếc chiếu được trải từ trước tại vị trí sát cửa ra vào phòng vệ sinh, rồi sử dụng 01 bộ bài tú lơ 52 quân có sẵn từ trước để đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Trương Văn Kh, Vũ Văn N (đều là công nhân Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Long) đến cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, do thua hết tiền nên S nghỉ chơi; còn T, S, Kh, D, Q, N và Ch tiếp tục đánh bạc đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an huyện TL phối hợp cùng Công an xã TN phát hiện, bắt quả tang và lập Biên bản vụ việc.

* Tài sản, vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ tại chiếu bạc gần cửa phòng vệ sinh của Phòng nghỉ số 20: số tiền 1.240.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa in hoa văn nhiều màu sắc, kích thước (1,6 x 2)m;

- Thu giữ của: Vũ Văn N số tiền 680.000 đồng, 01 ví giả da bên trong có số tiền 5.430.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A78; Đinh Trọng D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A113; Trương Văn Kh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno72 5G; Nguyễn Văn Ch 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax; Nguyễn Văn Q số tiền 10.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Renno 7; Phạm Văn S số tiền 5.400.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme Note 11; Đinh Văn T số tiền 1.420.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23.

Tài liệu điều tra xác định tổng số tiền Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Đinh Trọng D, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch và Đinh Tiến S sử dụng vào việc đánh bạc là 14.180.000 đồng (bao gồm số tiền 1.240.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc và số tiền 12.940.000 đồng thu giữ của các đối tượng đều có mục đích để đánh bạc); trong đó, T sử dụng khoảng 1.000.000 đồng, S sử dụng khoảng 6.000.000 đồng, Kh sử dụng khoảng 200.000 đồng, D sử dụng khoảng 1.200.000 đồng, Q sử dụng khoảng 200.000 đồng, N sử dụng khoảng 5.400.000 đồng, Ch sử dụng khoảng 400.000 đồng và S sử dụng khoảng 320.000 đồng để tham gia đánh bạc.

* Về xử lý vật chứng: trong giai đoạn điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng và trả lại 01 ví giả da, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A78 cho Vũ Văn N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A113 cho Đinh Trọng D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno72 5G cho Trương Văn Kh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax cho Nguyễn Văn Ch, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Renno 7 cho Nguyễn Văn Q, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme Note 11 cho Phạm Văn S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 cho Đinh Văn T.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-TA ngày 25/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự - xử phạt các bị cáo: Đinh Văn T và Đinh Trọng D, mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; Phạm Văn S, Vũ Văn N và Nguyễn Văn Ch, mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q và Đinh Tiến S, mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự - tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 14.180.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu nhựa.

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án; nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản vụ việc, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/01/2025, tại Phòng nghỉ số 20 của Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Long, thuộc thôn BL, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà N; Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S cùng nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng” với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 14.180.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, do thua hết tiền nên S nghỉ chơi; còn T, S, Kh, Q, N, Ch và D tiếp tục đánh bạc đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện TL phối hợp cùng Công an xã TN phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đây là vụ án có nhiều đối tượng tham gia, nhưng có tính chất tự phát, không có sự câu kết chặt chẽ, nên xác định là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S cùng rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, nên có vai trò như nhau.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S có nhân thân tốt; bị cáo Nguyễn Văn Ch có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đều “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo Đinh Văn T có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị cáo Vũ Văn N có thời gian tham gia quân đội nhân dân Việt Nam và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bị cáo Đinh Trọng D có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo Đinh Tiến S có thời gian tham gia nghĩa vụ tại Trại giam Định Thành - Bộ Công an và được xuất ngũ, có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng; nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy,

Bị cáo Nguyễn Văn Ch mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; từ đó đến nay, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S đều có nhân thân tốt. Tất cả các bị cáo đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, không cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022, hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp.

- Hình phạt bổ sung: xét thấy, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 ví giả da và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A78 của Vũ Văn N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A113 của Đinh Trọng D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno72 5G của Trương Văn Kh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Nguyễn Văn Ch, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Renno 7 của Nguyễn Văn Q, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme Note 11 của Phạm Văn S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 của Đinh Văn T: quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội; Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL đã trả lại cho các bị cáo là đúng pháp luật.

- Đối với số tiền 14.180.000 đồng: đây là số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu nhựa đều đã qua sử dụng: đây là công cụ các đối tượng sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: quá trình kiểm tra, lập Biên bản vụ việc đối với các đối tượng tại Phòng nghỉ công nhân số 20 của Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Long, thì còn có anh Phạm Công Q1 - sinh năm 1990, cư trú tại Khu phố 8, thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và anh Dương Tiến Th1 - sinh năm 1994, cư trú tại tiểu khu La Mát, thị trấn Kiện Khê, huyện TL, tỉnh Hà Nam cũng ở trong phòng. Tuy nhiên, anh Q1 và anh Th1 đều không tham gia đánh bạc, không trông coi, cảnh giới, canh gác để các đối tượng đánh bạc; nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL không xem xét xử lý đối với anh Q1 và anh Th1 là đúng pháp luật.

Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Về hình sự: tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

- Xử phạt bị cáo Trương Văn Kh 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

- Xử phạt bị cáo Vũ Văn N 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

- Xử phạt bị cáo Đinh Trọng D 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

- Xử phạt bị cáo Đinh Tiến S 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2025).

Giao các bị cáo Đinh Văn T, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch và Đinh Tiến S cho Ủy ban nhân dân xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Phạm Văn S cho Ủy ban nhân dân xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Trương Văn Kh cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã TNg, huyện TL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Đinh Trọng D cho Ủy ban nhân dân xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S.

2. Xử lý vật chứng: tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 14.180.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 Q và 01 chiếu nhựa (tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL; số tiền theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản số 11 lập ngày 26/02/2025 tại Kho bạc Nhà nước huyện TL).

3. Án phí: các bị cáo Đinh Văn T, Phạm Văn S, Trương Văn Kh, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn N, Nguyễn Văn Ch, Đinh Trọng D và Đinh Tiến S, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ