vanban.org

Bản án 38/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Khưu Thị Minh D:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Bà Khưu Thị Minh D được ly hôn với ông Trần Văn T. 2/. Về con chung: Đối với cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012: Giao cho bà Khưu Thị Minh D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Khưu Thị Minh D và ông Trần Văn T ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Khưu Thị Minh D:
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST
Ngày 05-5-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Như

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Tuấn

Bà Nguyễn Bạch Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Thành Công, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Khưu Thị Minh D, sinh năm 1984; nơi thường trú: Ơ, đường B, khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1982; nơi thường trú: Ơ, đường B, khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 12 năm 2024 và lời trình bày của bà Khưu Thị Minh D tại phiên tòa:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, bà D và ông Trần Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 07/11/2011. Trong thời kỳ hôn nhân, ông bà chung sống với nhau hạnh phúc được 05 năm, thời gian về sau ông bà không quan tâm chăm sóc với nhau, đến khoảng gần 04 năm gần đây bà D và ông T tự nguyện sống riêng. Về con chung: Có một con chung tên Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012. Về tài sản chung: ông bà có tạo lập tài sản chung, tự thỏa thuận không có tranh chấp. Về nợ chung: Ông bà không có nợ ai và cũng không có ai nợ ông, bà.

Nay bà D yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Đối với cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012, bà D muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Minh N đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Do trong sinh hoạt trong gia đình khi chưa ly hôn, ông T hàng tháng đưa cho bà Duyên số tiền 3.000.000 đồng cùng nhau chăm sóc nuôi dưỡng con chung, nên khi ly hôn bà D yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012, mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu Trần Minh N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Địa điểm, phương thức cấp dưỡng, bà D và ông T tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: Bà D trình bày ông bà có tạo lập tài sản chung, tự thỏa thuận không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông bà không có nợ ai và cũng không có ai nợ ông, bà, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Khưu Thị Minh D đã nộp Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao trích lục); Giấy khai sinh cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012 (bản sao); Căn cước công dân có tên Khưu Thị Minh D chứng thực bản sao; Đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin giải quyết vụ án vắng mặt, ngày 19/3/2025;

- Bị đơn ông Trần Văn T từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử, các văn bản tố tụng của Tòa án cấp tống đạt cho ông Trần Văn T đều từ chối nhận.

- Quá trình tố tụng, Tòa án lấy ý kiến nguyện vọng của cháu Trần Minh N trình bày mong muốn nguyện vọng chung sống với mẹ, muốn mẹ ông T trực tiếp nuôi dưỡng.

- Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự: Ông Trần Văn T không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu mà bà Khưu Thị Minh D đã trình bày và giao nộp cho Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Khưu Thị Minh D yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với ông Trần Văn T và ông Trần Văn T cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Đối với ông Trần Văn T là bị đơn được Tòa án tiến hành cấp tống đạt để tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai, nhưng ông Trần Văn T đều từ chối nhận theo quy định tại Khoản 4 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì bị đơn ông Trần Văn T được cấp tống đạt hợp lệ, xác định ông Trần Văn T vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trần Văn T.

Theo các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và tài liệu do bà Khưu Thị Minh D cung cấp và ông Trần Văn T không phản đối căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Khưu Thị Minh D và ông Trần Văn T xác lập quan hệ vợ chồng phù hợp quy định về điều kiện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 07/11/2011 nên hôn nhân ông, bà là hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Về yêu cầu ly hôn của bà Khưu Thị Minh D: Sau thời gian chung sống thì bà D, ông T phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về quan điểm sống, vợ chồng ông bà không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đây là sự vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Đối với cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012 đang chung sống với ông Trần Văn T và bà Khưu Thị Minh D, nguyện vọng cháu N chung sống với mẹ, tôn trọng ý kiến của cháu N. Nên Hội đồng xét xử giao cho bà Khưu Thị Minh D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Ông Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc cháu Huỳnh Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012 theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con đối với cháu N, mỗi tháng 3.000.000 đồng, dựa theo hằng tháng ông T đã đưa tiền cho bà D nên khi ly hôn, tiếp tục yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con con cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Địa điểm, phương thức cấp dưỡng bà D, ông T tự thỏa thuận, theo quy định Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là phù hợp.

. Về tài sản chung: Các đương sự không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà D trình bày không có, không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng phát biểu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, bị đơn ông Trần Văn T phải chịu án phí cấp dưỡng theo khoản 5,6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95, Khoản 4 Điều 177; điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5,6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Khưu Thị Minh D:

1.1/. Về quan hệ hôn nhân: Bà Khưu Thị Minh D được ly hôn với ông Trần Văn T.

1.2/. Về con chung: Đối với cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012: Giao cho bà Khưu Thị Minh D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Ông Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc cháu Huỳnh Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012 theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Văn T phải cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Trần Minh N, sinh ngày 06/6/2012, mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/5/2025). Địa điểm, phương thức cấp dưỡng bà D, ông T tự thỏa thuận.

1.3/. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, không phát sinh tranh chấp nên Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết.

1.4/. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, không phát sinh tranh chấp nên Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Khưu Thị Minh D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) (án phí ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0008759 ngày 26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Bà Khưu Thị Minh D đã thực hiện xong. Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (án phí cấp dưỡng).

3/. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạnh 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án cấp tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Cỡ chữ