vanban.org

Bản án 38/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh M H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Đinh M H 16 (Mười sáu) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đinh M H cho Ủy ban nhân dân xã N S, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Mạnh H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh M H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THIỆU HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST
Ngày: 27 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Dũng Tấn

2. Ông Trần Thanh Tùng

- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Loan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa: 04/2024/HSST-QĐ ngày 11/12/2024 đối với bị cáo:

Đinh M H, sinh ngày 31/01/1989; Tại: Xã N S, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; Số căn cước công dân: 035089010462; cấp ngày 14/8/2021; Nơi cư trú: thôn Th X, xã N S, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Viết T – Sinh năm: 1954 và bà Phạm Thị Kh – Sinh năm: 1953; Vợ: Trần Thị K D - Sinh năm: 1993; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973 (đã chết)

- Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại: Anh Lê Quang Th, sinh năm 1994; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 1, xã Th G, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần may xuất khẩu V

Địa chỉ: xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Thành P, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Địa chỉ: TDP 21, phường Ph, quận B, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 27/8/2024, tại đường xuống Cao tốc Bắc Nam đi Quốc lộ 45 thuộc thôn 1, xã Th G, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô BKS 36B2-659.75 do bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973 ở thôn 1, xã Th G, huyện Thiệu Hóa điều khiển theo hướng từ thôn 1, xã Th G đi thôn 6, xã Th G với xe ô tô tải thùng BKS 90H-007.82 do anh Đinh M H, sinh năm 1989 ở thôn Thuỵ Xuyên, xã N S, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam điều khiển theo hướng Cao tốc Bắc – Nam đi Quốc lộ 45. Hậu quả: Bà Hiền bị thương đi cấp cứu tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Thanh Hoá, đến 13 giờ 45 phút cùng ngày thì tử vong.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Thiệu Hóa đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Cụ thể: Hiện trường chung nơi xảy ra vụ việc được xác định tại đường nối lên Cao tốc Mai Sơn – Quốc lộ 45 thuộc địa phận thôn 1, xã Th G, huyện Thiệu Hoá, Thanh Hoá, giao nhau với đường liên thôn nối thôn 1 và thôn 6, xã Th G. Phía Bắc là hướng đi thôn 1, xã Th G, phía Nam là hướng đi thôn 6, xã Th G, phía Đông là hướng đi lên Cao tốc Mai Sơn - Quốc lộ 45, phía Tây là hướng đi xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hoá. Đường nối Cao tốc Mai Sơn - Quốc lộ 45 là đoạn đường thẳng, phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, đường rải thảm nhựa, có 02 chiều riêng biệt ngăn cách bởi vạch kẻ liền màu vàng (02 vạch kẻ vàng song song, cách nhau 65cm tính từ mép ngoài 02 vạch kẻ) mỗi chiều có 02 làn riêng biệt ngăn cách bởi vạch kẻ trắng liền. Chiều rộng làn đường lần lượt từ Nam đến Bắc là 680cm, 390cm, 390cm, 680cm. Tổng chiều rộng lòng đường là 2205cm. Ở mỗi phần đường có vạch kẻ giảm tốc khi vào ngã tư, cách ngã tư 50m về cả hai phía có gắn biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên ở mép đường bên phải theo chiều đi, trước khi vào ngã tư. Đường liên thôn là đoạn đường thẳng, phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, có độ cao thấp hơn so với đường Hoàng Kim 30-40cm, là đường 02 chiều không có vạch kẻ đường, đường được đổ bê tông, chiều rộng lòng đường là 250cm, mở rộng dần khi giao nhau với đường Hoằng Kim – Thiệu Long, trước khi giao nhau có vạch kẻ giảm tốc, cách vị trí giao nhau với ngã tư 25m trước đó ở lề bên phải có biển báo giao nhau với đường ưu tiên (theo chiều từ Bắc đến Nam).Hiện trường đã xáo trộn do người dân đưa nạn nhân đi cấp cứu, phương tiện đi lại trên đường.

* Mốc chuẩn: Lấy chân cột biển báo “giới hạn tải trọng toàn bộ xe – 10 tấn” nằm ở mép đường bên phải theo chiều từ Tây sang Đông, cách điểm giao cắt đường liên thôn và đường Hoằng Kim ở cùng phía 40m làm mốc chuẩn.

* Mép chuẩn: Lấy mép đường Hoằng Kim – Thiệu Long bên phải đường theo chiều từ Tây đến Đông làm mép chuẩn.

* Các dấu vết để lại trên hiện trường

- Dấu vết 01: Vết tỳ trượt màu đen (dạng vân lốp) trên đường, không liên tục, kích thước (2565 x 15)cm, chiều hướng từ Đông đến Tây, hơi chếch từ Bắc đến Nam. Đầu vết nằm trên vạch kẻ giảm tốc bên phải theo hướng từ Đông đến Tây. Đầu vết cách mốc chuẩn (1700 x 1210)cm về phía Tây Bắc, cách mép chuẩn 1200cm về phía Bắc. Cuối vết cách mép chuẩn 935cm về phía Bắc. Song song với vết 01 về phía Bắc là vết tỳ trượt màu đen (dạng vân lốp), kích thước (1350 x 13)cm, cùng chiều với vết 01. Dầu vết cách mép chuẩn 1405cm về phía Bắc, cách đầu vết 01 về phía Tây 1305cm. Cuối vết cách mép chuẩn 1130cm về phía Bắc.

- Dấu vết 02: Hệ thống vết cày trượt song song, không liên tục trên mặt đường, cùng chiều với vết 01, kích thước (720 x 66)cm, đầu vết cách mép chuẩn 1127cm, cách đầu vết 01 về phía Tây 1845cm, cuối vết cách mép chuẩn 970cm về phía Bắc.

- Dấu vết 03: Dấu vết chất màu nâu đỏ (dạng máu) trên mặt đường, đã hong khô, kích thước (25 x 20)cm. Tâm vết cách cuối vết 02 về phía Tây Nam 210cm, cách mép chuẩn 845cm về phía Bắc.

Ngày 30/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thiệu Hóa đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 393/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định dấu vết cơ học trên phương tiện liên quan trong vụ vi phạm quy định về tham gia giao thông nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 3318/KL-KTHS ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước dưới ba-đờ-sốc trước xe ô tô BKS 90H-007.82 với bên trái xe mô tô BKS 36B2-659.75.

- Tại thời điểm va chạm xe mô tô BKS 36B2-659.75 chuyển động gần vuông góc, từ phải sang trái so với chuyển động của xe ô tô BKS 90H-007.82.

- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (2), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo chiều từ hướng lên Cao tốc đi ra đường Hoàng Kim và trong khu vực ngã tư giao nhau giữa đường đi thôn 1 – thôn 6 với đường lên cao tốc Bắc Nam.

- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô BKS 90H-007.82 và xe mô tô BKS 36B2-659.75 tại thời điểm xảy ra va chạm.

- Ngoài dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 36B2-659.75 với xe ô tô BKS 90H-007.82, không phát hiện dấu vết va chạm với phương tiện, người, đồ vật khác.

Ngày 27/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thiệu Hóa ra Quyết định trưng cầu giám định số 382/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị H1. Sau khi sự việc xảy ra, Đinh M H đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bà Nguyễn Thị H1 số tiền 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bà Hiền đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS - TH ngày 04/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Đinh M H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Đề nghị xử phạt Đinh M H từ 15 đến 20 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 40 Tháng.

Đề nghị HĐXX ghi nhận việc bị cáo Hùng đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên trả lại 01 Giấy phép lái xe số 350115000032 cấp ngày 12/10/2021 cho bị cáo Đinh M H.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh hình phạt và các vấn đề khác. Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi, chứng cứ xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Đinh M H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án ; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 27/8/2024, Đinh M H có giấy phép lái xe hạng C đã điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát ô tô BKS 90H-007.82 khi đi đến đường xuống Cao tốc Bắc Nam đi Quốc lộ 45 thuộc thôn 1, xã Th G, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đã đâm va với xe mô tô BKS 36B2-659.75 do bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973 ở thôn 1, xã Th G, huyện Thiệu Hóa điều khiển theo hướng từ thôn 1, xã Th G đi thôn 6, xã Th G đi sang đường. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị H1 tử vong. Hành vi của bị cáo Hùng đã vi phạm quy định tại khoản khoản 1 điều 5 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới tham gia đường bộ, cụ thể “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường”. Hành vi thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn của Đinh M H đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 “ Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, đồng thời để lại hậu quả nặng nề cho gia đình bị hại, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Hành vi đó phải được xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và cũng là để thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh M H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm, việc thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô BKS 90H-007.82 do Đinh M H điều khiển, đây là phương tiện liên quan đến tại nạn giao thông. Sau khi tiến hành khám nghiệm Cơ quan công an đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, chủ sở hữu xin tự sửa chữa và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với giấy phép lái xe hạng C số 350115000032 cấp ngày 12/10/2021 mang tên Đinh M H, HĐXX xét thấy trả lại cho bị cáo là phù hợp.

. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh M H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Đinh M H 16 (Mười sáu) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh M H cho Ủy ban nhân dân xã N S, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Đinh M H và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự xong.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng C số 350115000032 cấp ngày 12/10/2021 mang tên Đinh M H cho bị cáo Đinh M H (được giao trả cho bị cáo tại Tòa án).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Đinh M H phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện gia đình bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ