- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Bùi Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUY N THANH THỦY TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 04 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUY N THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hƣơng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cảnh Tùng
Ông Phạm Văn Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đào - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân
dân hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ tham
gia phiên toà: Ông Đoàn Hồng Quang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân hu n Thanh
Thủ , tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân hu n Thanh Thủ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T sinh ngà 06/12/1985 tại hu n T, tỉnh P; Nơi cư trú:
Khu 5, xã B, hu n T, tỉnh P; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông: Ngu ễn Văn T(đã chết); con bà: Ngu ễn Thị K sinh năm 1952; Có vợ: Ngu ễn Thị Đ sinh năm 1982 và 01 con sinh năm 2005; Tiền án: Không;
Tiền sự: 03 tiền sự:
Qu ết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngà 02/6/2022 của
Công an xã B, hu n T, tỉnh P, Ngu ễn Văn T bị xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tú , T chưa chấp hành.
Qu ết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngà 08/6/2022 của
Công an xã B, hu n T, tỉnh P, Ngu ễn Văn T bị xử phạt hành chính số tiền 2.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tú , Tiến chưa chấp hành.
Qu ết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị
trấn số 1772/QĐ-XPTT ngà 23/6/2022 của Chủ tịch UBND xã B, hu n T, tỉnh P, Ngu ễn Văn T bị buộc phải chấp hành bi n pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã B, hu n T, tỉnh P trong thời gian 3 tháng, đến ngà 23/9/2022, T đã chấp hành xong.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2000/HSST ngà 19/4/2000 của Tòa án nhân
dân hu n T, tỉnh P, Ngu ễn Văn T bị xử phạt 3 tháng 16 ngà tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, buộc T phải chịu 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm, ngà 03/10/2001, T đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2005/HSST ngà 13/12/2005 của Tòa án nhân
dân hu n T, tỉnh P, Ngu ễn Văn T bị xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc T phải chịu 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm, ngà 18/11/2008, T đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2008/HS-ST ngà 25/7/2008 của Tòa án nhân
dân hu n T, tỉnh P, Ngu ễn Văn T bị xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc T phải chịu 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm, ngà 01/10/2009, T đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2016/HSST ngà 23/3/2016 của Tòa án nhân
dân quận N, thành phố H, Ngu ễn Văn T bị xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, ngà 24/3/2017, T đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2017/HSST ngà 27/12/2017 của Tòa án nhân
dân hu n T, tỉnh P, Ngu ễn Văn T bị xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc tiến phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, ngà 29/12/2018, T đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngà 01/01/2024 đến ngà 15/01/2024 thì
được tha thế bằng bi n pháp ngăn chặn bảo lĩnh và L nh cấm đi khỏi nơi cư trú, hi n tại ngoại ở tại khu 5, xã B, hu n T, tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bùi Văn T sinh ngày 26/3/1986 tại hu n T, tỉnh P; Nơi cư trú: Khu 4, xã
B, hu n T, tỉnh P; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông: Bùi Thanh M sinh năm 1955; con bà: Tăng Thị D (đã chết); Chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Qu ết định đưa vào trường giáo dưỡng số 2523/QĐ-UB ngày 01/10/1999 của
UBND tỉnh P, Bùi Văn T bị đưa vào trường giáo dưỡng 18 tháng, ngà 16/4/2001, Toan chấp hành xong.
Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2007/HS-ST ngày 21/8/2007, Bùi Văn T bị
Tòa án nhân dân hu n T xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc T phải bồi thường số tiền 5.000.000đ, chịu 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 250.000đ án phí dân sự trong vụ án hình sự, đến nà T đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngà 01/01/2024 tại Trại tạm giam Công an
tỉnh P. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1 Anh Nguyễn Văn H sinh năm 1987 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu 5, xã B, hu n T, tỉnh P.
2 Anh Bùi Thanh Tsinh năm 1988 (Có mặt).
Nơi cư trú: Khu 4, xã B, hu n T, tỉnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T là người nghi n chất ma tuý Heroine nên đã nả sinh ý định mua ma tú rồi bán lại để kiếm lợi. Từ ngà 31/12/2023 đến ngà 01/01/2024, Ngu ễn Văn T đã 03 lần bán trái phép chất ma tú Heroine cho Bùi Văn T, sau khi mua được ma tú của T, T đã 02 lần bán trái phép cho Ngu ễn Văn H, sinh năm 1987, trú tại: Khu 5, xã B, hu n T, tỉnh P, lần thứ 3 trên đường mang ma tú đến cho H thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an hu n T bắt giữ, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng hơn 18 giờ ngà 31/12/2023, Bùi Văn T đang ở nhà tại: Khu 4, xã B, hu n T, P thì Ngu ễn Văn H (là bạn T) sử dụng số đi n thoại 0983899512 gọi đến số đi n thoại 0564174607 của T hỏi mua 500.000đ ma tuý Heroine thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 19T1-3074 (xe mượn của Bùi Thanh T, sinh năm 1988, trú tại khu 4, xã B, hu n T, P) đến nhà H lấ 500.000đ rồi đến nhà Ngu ễn Văn T mua 400.000đ ma tuý Heroine (được gói trong 02 gói giấ nhỏ). Sau khi mua được ma tú , T về nhà lấ 01 gói ma tuý ra sử dụng bằng cách hít vào cơ thể, 01 gói ma tú còn lại T mang đến nhà đưa cho H. Sau khi mua được ma túy, H mang ra bờ sông Đà sử dụng hết bằng hình thức tiêm trích vào cơ thể.
Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngà 01/01/2024, Bùi Văn T đang ở nhà tại: Khu 4, xã B, hu n T, P thì Ngu ễn Văn H sử dụng số đi n thoại 0983899512 gọi đến số đi n thoại 0564174607 của T hỏi mua 500.000đ ma tú Heroine thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 19T1-3074 đến nhà H lấ 500.000đ rồi đến nhà Ngu ễn Văn T mua 400.000đ ma tuý Heroine (được gói trong 02 gói giấ nhỏ màu trắng, loại giấ ô li, có dòng kẻ màu xanh). Sau khi mua được ma tú , T về nhà lấ trong mỗi gói một phần ma tú ra sử dụng bằng cách hít vào cơ thể, số ma tú còn lại T gói lại vào 02 gói giấ lúc trước rồi mang đến nhà H. Tu nhiên, khi đến nơi, không gặp H nên T cất giấu 02 gói ma tú dưới tấm thảm lau chân để ở hiên nhà H rồi đi về. Khi vừa ra đến cổng thì gặp H, T chỉ cho H chỗ giấu ma tú rồi đi về nhà. Khoảng 10 giờ 30 ngà 01/01/2024, H mang 02 ma tú Heroine trên đến khu vực nghĩa trang thuộc khu 5, xã B, hu n T, P sử dụng hết bằng hình thức tiêm trích vào cơ thể thì bị Công an hu n T kiểm tra, phát hi n, thu giữ 01 xi lanh nhựa màu trắng, bên trong có bám dính dung dịch màu hồng; 01 vỏ ống NOVOCAIN và 02 mảnh giấ màu trắng (loại giấ học sinh có dòng kẻ ô l màu xanh).
Lần thứ ba: Khoảng 13 giờ ngà 01/01/2024, Bùi Văn T đang ở nhà tại: Khu 4, xã B, hu n T, P thì Ngu ễn Văn H sử dụng số đi n thoại 0983899512 gọi đến số đi n thoại 0564174607 của T hỏi mua 500.000đ ma tú Heroine thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 19T1-3074 đến nhà H lấ 500.000đ rồi đến nhà Ngu ễn Văn T mua 400.000đ ma tuý Heroine (được gói trong 02 gói giấ nhỏ màu trắng, loại giấ ô li, có dòng kẻ màu xanh). Sau khi mua được ma tú , T đi về nhà, khi đi đến khu 5, xã B, hu n T, tỉnh P bị Công an hu n T kiểm tra, bắt giữ, thu giữ của Bùi Văn T 02 gói giấ nhỏ đều được gói bằng giấ dòng kẻ ô li màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột cục màu trắng (T khai nhận là ma tuý Heroine).
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngu ễn Văn T thu giữ 03 xi lanh nhựa màu trắng, loại 3 ml, đã qua sử dụng; 04 gói giấ nhỏ bằng giấ ô l màu trắng, bị thấm ướt (trong đó có 02 gói giấ mở ra bên trong có bám dính chất bột cục màu trắng bị ướt; 02 gói giấ còn lại bị vo tròn, mở ra không phát hi n vật bám dính); 02 túi ni lon màu trắng, có khu bấm, viền màu đỏ, bên trong hai túi có bám dính chất bột màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 16/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“- Dung dịch màu hồng bám dính bên trong 01 (một) xilanh bằng nhựa màu trắng, loại 3ml/cc niêm phong trong bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Ngu ễn Văn H gửi đến giám định có chất ma tú , loại Heroine.
- Chất bột cục màu trắng chứa bên trong 02 (hai) gói giấ đều có hai mặt màu trắng có dòng kẻ màu xanh, loại giấ kẻ ô l niêm phong trong bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Bùi Văn T, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,108 gam.
- Chất màu trắng bám dính trong 04 (bốn) gói giấ đều có hai mặt màu trắng có dòng kẻ màu xanh, loại giấ kẻ ô l được niêm phong trong bì giấ ghi vật chứng là 04 gói giấ tạm giữ của Ngu ễn Văn T, gửi đến giám định có chất ma tú , loại Heroine.
- Dung dịch màu hồng bám dính bên trong 03 (ba) xilanh bằng nhựa màu trắng, loại 3ml/cc được niêm phong trong bì giấ ghi vật chứng là 03 xilanh tạm giữ của Ngu ễn Văn T, gửi đến giám định có chất ma tú , loại Heroine.
- Chất màu trắng bám dính trong 02 (hai) túi nilon màu trắng có khu bấm viền màu đỏ được niêm phong trong bì giấ ghi vật chứng là 02 túi nilon tạm giữ của Ngu ễn Văn T, gửi đến giám định có chất ma tú , loại Heroine.
Heroin (hay Heroine) là chất ma tú nằm trong Danh mục IA, số thứ tự 09, Nghị định 75/2022/NĐ-CP ngà 25/8/2022 của Chính phủ”
Về nguồn gốc số ma tuý Heroine mà T đã bán cho T, T khai nhận mua của một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ làm nghề chạ xe ôm ở khu vực bến xe thị xã S, thành phố H với giá tiền 550.000đ vào sáng ngà 31/12/2023. Khi về đến nhà, T lấ số ma tuý Heroine vừa mua được chia làm 08 phần. Từ ngà 31/12/2023 đến ngà 01/01/2024, T đã 03 lần thực hi n hành vi bán trái phép chất ma tuý Heroine (06 gói) cho Bùi Văn T còn 02 gói ma tuý Heroine còn lại, T đã sử dụng bằng cách tiêm chích vào cơ thể.
Về xác minh tài sản: Các bị cáo làm nghề lao động tự do, ngoài những tài sản
phục vụ sinh hoạt hàng ngà , các bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị.
Căn cứ hành vi phạm tội của Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T, ngày 10/01/2024,
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an hu n T đã ra qu ết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tú ” theo qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKSTT ngày 10/6/2024 của Vi n kiểm sát nhân dân
hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ tru tố bị cáo Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự .
Tại phiên toà Kiểm sát viên Vi n kiểm sát nhân dân hu n Thanh Thủ vẫn
giữ ngu ên quan điểm tru tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của
Tu ên bố các bị cáo Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái
phép chất ma túy” .
Xử phạt bị cáo Ngu ễn Văn T từ 8(Tám) năm 6(Sáu) tháng đến 9(Chín) năm
tù. Thời hạn tù tính từ ngà bị cáo đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm gian (từ ngà 01/01/2024 đến ngà 15/01/2024).
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 8(Tám) năm đến 8(Tám) năm 6(Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà 01/01/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với tiền Vi t Nam: 920.000đ (Chín trăm hai mươi nghìn đồng), số tiền
trên được Cơ quan CSĐT Công an hu n Thanh Thuỷ chu ển vào TKTG số: 3949.0.1054405.00000 của Chi cục thi hành án dân sự hu n Thanh Thuỷ tại KBNN chi nhánh hu n Thanh Thuỷ vào ngà 03/7/2024. Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Tru thu của bị cáo Bùi Văn T số tiền 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng) là tiền
bị cáo được hưởng lợi sau khi bán ma tuý cho Ngu ễn Văn H vào ngày 31/12/2023 và ngà 01/01/2024 đã chi tiêu cá nhân hết 80.000đ (trong tổng số tiền được hưởng lợi là 200.000 đồng).
Đối với:
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068970 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng là 04 (bốn) gói giấ tạm giữ của Ngu ễn Văn T, bì giấ ghi vật chứng là 03 (ba) xi lanh tạm giữ của Ngu ễn Văn T, trả lại 03 (ba) xilanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068971 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Ngu ễn Văn H, trả lại 01 (một) xilanh bằng nhựa màu trắng loại 03ml/cc”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068972 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Bùi Văn T, trả lại: 0,086 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) vỏ ống Novocaine.
02 (hai) mảnh giấ đều màu trắng có dòng kẻ màu xanh.
Do đó cần tịch thu tiêu hủ .
Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u OPPO,
kiểu má CPH2471, màu xanh, lắp sim số 0564.174.607, đã qua sử dụng là đi n thoại di động của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn T:
01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u NOKIA1280, màu xanh, bên trong lắp
số 0961.813.915, đã qua sử dụng; 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u VIVO 1916, vỏ màu đen, màn hình bị vỡ bên trong lắp số 0369.159.652 và 0353.647.303, đã qua sử dụng.
01 (một) thẻ nhớ Micro SD đựng trong 01 (một) bì giấ niêm phong, mặt
trước ghi “Vật chứng là 01 (một) thẻ nhớ Micro SD tạm giữ của Ngu ễn Văn T, SN 1981, HKTT: Khu 5, B, T, P ngà 01/01/2024”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã B, hu n T, tỉnh P.
Là tài sản, đồ vật thuộc qu ền sở hữu hợp pháp của T không liên quan đến
hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hi u, thân xe dán tem nhãn Wave
màu đỏ, gắn biển kiểm soát 19T1 – 3074 là chiếc xe thuộc qu ền sở hữu hợp pháp của anh Bùi Thanh T nên trả lại cho anh T là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn T và Ngu ễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu
200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Bùi Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị
cáo sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng:
Về hành vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an hu n Thanh
Thủ , Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân hu n Thanh Thủ , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru tố đã thực hi n đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, qu ết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đúng theo qu định của pháp luật.
Bị cáo Ngu ễn Văn T và người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngu ễn
Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt bị cáo, người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấ bị cáo, người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hi n trong hồ sơ và vi c vắng mặt của họ không gâ trở ngại cho vi c xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án, là phù hợp qu định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về nội dung vụ án:
Tại phiên toà bị cáo Ngu ễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt và bị cáo
Bùi Văn T có mặt các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng tru tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai tại phiên tòa đều thống nhất với nhau, phù hợp lời khai của người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 31/12/2023 và 01/01/2024, tại khu 4, xã B, hu n T, P, Ngu ễn Văn T đã 03 lần bán trái phép chất ma tú loại Heroine cho Bùi Văn T. Sau khi mua được ma tú Heroine của T, Bùi Văn T đã 02 lần bán trái phép chất ma tú Heroine cho Ngu ễn Văn H tại nhà của H ở khu 4, xã B, hu n T, tỉnh P. Ngoài ra, T còn có hành vi tàng trữ 0,108 gam ma tú Heroine với mục đích để bán cho H. Do vậ , hành vi của Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T đã bán ma tuý nhiều lần (hai lần trở lên) nên đủ ếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tú ” theo qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật Hình sự qu định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tú , thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07
năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đâ , thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
… ”.
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị
cáo là ngu hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc qu ền quản lý của Nhà nước về các chất ma tú . Ma tú là nguồn gốc rễ phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vi c mua bán trái phép chất ma tú của các bị cáo để sử dụng đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe cho bản thân, ảnh hưởng đến vi c du trì trật tự trị an trên địa bàn, gâ nên sự bất bình lo lắng trong quần chúng nhân dân. Hi n na , t nạn ma tuý đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tu ên tru ền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống t nạn ma tuý thì vẫn còn những người vì mục đích tư lợi đã lén lút hoạt động mua bán trái phép chất ma tuý, bất chấp pháp luật và hậu quả gâ ra cho xã hội. Hành vi của các bị cáo thực hi n với lỗi cố ý, các bị cáo có đủ năng lực để chịu trách nhi m hình sự về tội phạm mà các bị cáo đã thực hi n. Cho nên đối với các bị cáo cần phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Ngoài ra bị cáo Bùi Văn T còn có hành vi tàng trữ 0,108 gam ma túy Heroine với mục đích để bán. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo có động cơ là vụ lợi, khách thể bị xâm phạm là qu ền độc qu ền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, là khách thể được luật hình sự bảo v mà mọi hành vi xâm phạm đến đều bị xử lý nghiêm minh. Do vậ cần phải xử phạt nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự của
các bị cáo Hội đồng xét xử thấ rằng:
Về nhân thân các bị cáo:
Bị cáo Ngu ễn Văn T có 03 tiền sự trong đó có 02 tiền sự chưa chấp hành và
01 tiền sự đã chấp hành xong. Bị cáo Bùi Văn T tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân của bị cáo Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T là xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tru tố các bị cáo
Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình
tiết tăng nặng trách nhi m hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo qu định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật
hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhi m chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vi c nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, nhưng Hội đồng xét xử xét thấ trước khi phạm tội các bị cáo làm nghề lao động tự do, ngoài những tài sản phục vụ sinh hoạt hàng ngà , các bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với tiền Vi t Nam: 920.000đ (Chín trăm hai mươi nghìn đồng), số tiền
trên được Cơ quan CSĐT Công an hu n T chu ển vào TKTG số: 3949.0.1054405.00000 của Chi cục thi hành án dân sự hu n Thanh Thuỷ tại KBNN chi nhánh hu n Thanh Thuỷ vào ngà 03/7/2024. (Trong đó: Số tiền 120.000đồng T khai là số tiền được hưởng lợi sau khi bán ma tuý cho Ngu ễn Văn H vào ngày 31/12/2023 và ngà 01/01/2024 đã chi tiêu cá nhân hết 80.000đ (trong tổng số tiền được hưởng lợi là 200.000 đồng); Số tiền 800.000đồng là số tiền do T bán ma tuý (Heroine) cho T vào ngày 01/01/2024 mà có). Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Tru thu của bị cáo Bùi Văn T số tiền 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng) là tiền
bị cáo được hưởng lợi sau khi bán ma tuý cho Ngu ễn Văn H vào ngày 31/12/2023 và ngà 01/01/2024 đã chi tiêu cá nhân hết 80.000đ (trong tổng số tiền được hưởng lợi là 200.000 đồng).
Đối với:
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068970 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng là 04 (bốn) gói giấ tạm giữ của Ngu ễn Văn T, bì giấ ghi vật chứng là 03 (ba) xi lanh tạm giữ của Ngu ễn Văn T, trả lại 03 (ba) xilanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068971 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Ngu ễn Văn H, trả lại 01 (một) xilanh bằng nhựa màu trắng loại 03ml/cc”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068972 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Bùi Văn T, trả lại: 0,086 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) vỏ ống Novocaine.
02 (hai) mảnh giấ đều màu trắng có dòng kẻ màu xanh.
Do đó cần tịch thu tiêu hủ .
Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u OPPO,
kiểu má CPH2471, màu xanh, lắp sim số 0564.174.607, đã qua sử dụng là đi n thoại di động của Toan không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn T: 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u
NOKIA1280, màu xanh, bên trong lắp số 0961.813.915, đã qua sử dụng; 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u VIVO 1916, vỏ màu đen, màn hình bị vỡ bên trong lắp số 0369.159.652 và 0353.647.303, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhớ Micro SD đựng trong 01 (một) bì giấ niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng là 01 (một) thẻ nhớ Micro SD tạm giữ của Ngu ễn Văn T, SN 1981, HKTT: Khu 5, B, T, P ngày 01/01/2024”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã B, hu n T, tỉnh P là tài sản, đồ vật thuộc qu ền sở hữu hợp pháp của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hi u, thân xe dán tem nhãn Wave
màu đỏ, gắn biển kiểm soát 19T1 – 3074 là chiếc xe thuộc qu ền sở hữu hợp pháp của anh Bùi Thanh T nên trả lại cho anh T là phù hợp.
Về các vấn đề khác của vụ án:
Đối với người nam giới làm nghề chạ xe ôm ở khu vực bến xe thị xã S, thành
phố H theo lời khai của T là người bán ma tú Heroine cho T vào sáng ngày 31/12/2023, tuy nhiên, T không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của T không có tài li u, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an hu n T không đủ căn cứ để xác minh, xử lý đối với người nam giới trên trong vụ án này là phù hợp.
Đối với Ngu ễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tú Heroine nên
Công an hu n T đã ra Qu ết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" qu định tại Khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ – CP ngà 31/12/2021 của Chính phủ qu định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội là đúng qu định pháp luật.
Đối với Bùi Thanh T là người cho Bùi Văn T mượn xe mô tô biển số 19T1-
3074, tuy nhiên, T không biết T sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi bán trái phép chất ma túy Heroine nên T không phạm tội là phù hợp.
Về án phí và qu ền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm. Bị cáo, người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan được qu ền kháng cáo Bản án theo qu định của pháp luật.
Các qu ết định Tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, tru tố là hợp pháp. Đề nghị của Kiểm sát viên Vi n kiểm sát nhân dân hu n Thanh Thủ tại phiên toà phù hợp với qu định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của
Bộ luật hình sự.
Tu ên bố các bị cáo Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái
phép chất ma túy” .
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 8 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngà bị cáo đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm gian (từ ngà 01/01/2024 đến ngà 15/01/2024).
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 8 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngà 01/01/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Ngu ễn Văn T và Bùi Văn T.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
Tiền Vi t Nam: 920.000đ (Chín trăm hai mươi nghìn đồng), số tiền trên được
Cơ quan CSĐT Công an hu n T chu ển vào TKTG số: 3949.0.1054405.00000 của Chi cục thi hành án dân sự hu n Thanh Thuỷ tại KBNN chi nhánh hu n Thanh Thuỷ vào ngà 03/7/2024.
Tịch thu tiêu hủ :
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068970 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng là 04 (bốn) gói giấ tạm giữ của Ngu ễn Văn T, bì giấ ghi vật chứng là 03 (ba) xi lanh tạm giữ của Ngu ễn Văn T và bì giấ ghi vật chứng là 02 (hai) túi nil on tạm giữ của Ngu ễn Văn T, trả lại 03 (ba) xilanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068971 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Ngu ễn Văn H, trả lại 01 (một) xilanh bằng nhựa màu trắng loại 03ml/cc”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 068972 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh Phú Thọ, mặt trước có ghi “Bì giấ ghi vật chứng tạm giữ của Bùi Văn T, trả lại: 0,086 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 (một) vỏ ống Novocaine.
02 (hai) mảnh giấ đều màu trắng có dòng kẻ màu xanh.
Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u OPPO,
kiểu má CPH2471, màu xanh, lắp sim số 0564.174.607, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Ngu ễn Văn T: 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u
NOKIA1280, màu xanh, bên trong lắp số 0961.813.915, đã qua sử dụng; 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u VIVO 1916, vỏ màu đen, màn hình bị vỡ bên trong lắp số 0369.159.652 và 0353.647.303, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhớ Micro SD đựng trong 01 (một) bì giấ niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng là 01 (một) thẻ nhớ Micro SD tạm giữ của Ngu ễn Văn T, SN 1981, HKTT: Khu 5, B, T, P ngày 01/01/2024”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng năm hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã B, hu n T, tỉnh P nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho anh Bùi Văn T 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hi u, thân xe dán
tem nhãn Wave màu đỏ, gắn biển kiểm soát 19T1 – 3074, đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên hi n Chi cục Thi hành án dân sự hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú
Thọ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngà 03/7/2024).
Truy thu của bị cáo Bùi Văn T số tiền 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng) để
sung ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Các bị cáo Bùi VănT và bị cáo Ngu ễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ
(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngà kể từ ngà tu ên án bị cáo, người có
qu ền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có qu ền kháng cáo Bản án. Bị cáo và người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được qu ền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngà kể từ ngà nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm ết để êu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND.H.Thanh Thủ ;
- CA hu n T;
Đã ký
- CQ THAHS;
- Chi cục THADS hu n Thanh Thủ ;
- Sở Tư pháp P;
- UBND xã B;
Nguyễn Thị Hƣơng Thuỷ
- Bị cáo; NCQL& NVLQ;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM HUY N THANH THUỶ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––––
Thanh Thuỷ, ngày 08 tháng 7 năm 2024
Số: 38/2024/TB-TA
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấ Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngà 04/7/2024 của Tòa
án nhân dân hu n Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ có lỗi do nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
1. Về nội dung tại dòng thứ 3 từ trên xuống trang 4 của Bản án nêu trên đã
ghi:
mỗi gói đều chứa chất bột cục màu trắng (T khai nhận là ma tuý Heroine).
Na được sửa chữa, bổ sung như sau:
mỗi gói đều chứa chất bột cục màu trắng (T khai nhận là ma tuý Heroine).
Quá trình điều tra, H không thừa nhận vi c hỏi mua ma tú của T trong lần nà .
2. Về nội dung tại dòng thứ 9 từ dưới lên trang 8 của Bản án nêu trên đã ghi:
được hưởng lợi là 200.000 đồng).
Na được sửa chữa, bổ sung như sau:
được hưởng lợi là 200.000 đồng). Tru thu của bị cáo Ngu ễn Văn T số tiền
400.000 đồng là tiền bị cáo bán ma tú cho T vào ngày 31/12/2023.
3. Về nội dung tại dòng thứ 18 từ trên xuống trang 11 của Bản án nêu trên đã
ghi:
sung ngân sách Nhà nước.
Na được sửa chữa, bổ sung như sau:
sung ngân sách Nhà nước. Tru thu của bị cáo Ngu ễn Văn T số tiền
400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND.H.Thanh Thủ ;
Đã ký
- CA hu n T;
- CQ THAHS;
- Chi cục THADS hu n Thanh Thủ ;
- Sở Tư pháp P;
Nguyễn Thị Hƣơng Thuỷ
- UBND xã B;
- Bị cáo; NCQL& NVLQ;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM HUY N THANH THUỶ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––––
Thanh Thuỷ, ngày 09 tháng 8 năm 2024
Số: 39/2024/TB-TA
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấ Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngà 04/7/2024 của Tòa
án nhân dân hu n Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ có lỗi do nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
Về nội dung tại dòng thứ 20 từ dưới lên trang 1 của Bản án nêu trên đã ghi:
1. Nguyễn Văn T sinh ngà 06/12/1985 tại hu n T, tỉnh
Na được sửa chữa, bổ sung như sau:
1. Nguyễn Văn T sinh ngà 30/7/1981 tại hu n T, tỉnh
| Nơi nhận: - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND.H.Thanh Thủ ; - CA hu n T; - CQ THAHS; - Chi cục THADS hu n Thanh Thủ ; - Sở Tư pháp P; - UBND xã B; - Bị cáo; NCQL& NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Hƣơng Thuỷ |