vanban.org

Bản án 38/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Đinh Văn P 21 (hai mươi mốt) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 24 tháng 02 năm 2024. Phạt bổ sung bị cáo Đinh Văn P 5 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST
Ngày: 24 - 7 -2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lệ Dung và ông Trần Văn Nghi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

Bà Lê Thị Thu H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Ông Trần Quang T - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình

Ngày 24 tháng 07 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an Tỉnh N. Xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST - HS ngày 07 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:

Đinh Văn P, sinh năm 1982 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: xóm M, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đinh Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1. Bị cáo có vợ là Lê Thị L và có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án: Bản án số 70/2022/HS-ST ngày 29/7/2022 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đinh Văn P 12 tháng tù và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 23/4/2023 P thi hành xong hình phạt nhưng chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0800632/QĐ-XPHC ngày 18/12/2021 của Công an xã K, huyện K xử phạt số tiền 750.000 đồng đối với Đinh Văn P về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. P chưa thi hành nên chưa được xoá vi phạm.

Lịch sử bản thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC ngày 09/6/2020 của Công an thị trấn P, huyện K xử phạt số tiền 500.000 đồng đối với Đinh Văn P về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đã được xoá vi phạm.

- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Giáo dục tại xã” số 01/QĐ-UBND ngày 28/12/2021 của UBND xã K, huyện K đối Đinh Văn P trong thời hạn 03 tháng. Ngày 28/3/2022 P đã thi hành xong nên được xoá vi phạm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 28/2/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm H, xã V, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người chứng kiến:

+ Anh Trần Trọng Đ

+ Anh Nguyễn Văn L1. Những người chứng kiến vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên buổi sáng ngày 24/2/2024, Đinh Văn P điều khiển xe mô tô BKS: 35K1 – 418.92 đi từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm B, xã K, huyện K. Tại đây P gặp một người đàn ông không quen biết hỏi và mua được 01 gói ma túy gói ngoài bằng giấy màu trắng, có dòng kẻ với giá 200.000đồng. Sau đó P cầm gói ma túy ở tay trái và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Hồi 10 giờ 25 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực đường dong thuộc xóm T, xã V, huyện K, P dừng xe mô tô, định mở gói ma tuý ra xem thì bị Công an huyện K kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của P 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng, có dòng kẻ; 01 xe mô tô nhãn hiệu “HONDA” mang BKS: 35K1 – 418.92 màu sơn xanh, đen, bạc. Kiểm tra gói nhỏ thu giữ của P bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, cân xác định khối lượng gói là 0,16 gam ký hiệu M gửi trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 273/KL-KTHS-MT ngày 28/2/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng là 0,1654 gam là ma túy, loại Heroine.”

Quá trình điều tra, Đinh Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 37/CT-VKS - KS ngày 05/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Đinh Văn P về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn P từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 24/02/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: một phong bì niêm phong ghi số 273/ KL – KTHS – MT. Bên trong có toàn bộ số ma túy hoàn trả sau khi giám định có khối lượng 0,094 gam là ma túy loại Heroine.

01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai tại phiên toà của bị cáo Đinh Văn P như nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản về việc thu giữ và niêm phong vật chứng lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 24 tháng 02 năm 2024 biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 55 phút ngày 24 tháng 02 năm 2024 và phù hợp kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ 25 phút ngày 24/02/2024, tại khu vực đường dong thuộc xóm T, xã V, huyện K. Đinh Văn P có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,1654 gam Heroine để sử dụng cho bản thân.

Heroin là chất ma túy thuộc bảng danh mục IA, số thứ tự 9 ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ.

Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm. Mặt khác hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ ma túy là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và mua bán nhưng vì nhu cầu sử dụng cho bản thân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi đang có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đang có một tiền án về tội trộm cắp tài sản mới chấp hành án tù về địa phương, một tiền sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa vi phạm, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục phạm tội do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cai nghiện, học tập thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân, nhưng qua xác minh tại chính quyền địa phương bị cáo có tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại xóm M, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình đồng thời bị cáo cũng có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp với khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực nghĩa trang thuộc xóm B, xã K, huyện K. P không biết tên, tuổi, địa chỉ người này, nếu gặp mặt cũng không nhận dạng được nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K không đủ căn cứ để điều tra, xác minh, xử lý người đàn ông trên.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã trả xe mô tô BKS: 35K1 – 418.92 cho anh Đỗ Văn T2 là chủ sở hữu của xe mô tô. Anh T2 không biết P mượn xe đi mua ma tuý. Việc Cơ quan CSĐT đã trả xe mô tô cho anh Đỗ Văn T2 đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Những vật chứng còn lại căn cứ vào Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS xử lý như sau:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định có khối lượng 0,094 gam là ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì ghi số 273/KL – KTHS – MT cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

01 phong bì niêm phong bên trong có 01vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Đinh Văn P 21 (hai mươi mốt) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 24 tháng 02 năm 2024. Phạt bổ sung bị cáo Đinh Văn P 5 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.

2.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy hoàn trả sau khi giám định có khối lượng 0,094 gam là ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì ghi số 273/ KL – KTHS – MT; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ.

(Chi tiết vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 061/06/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Văn P phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/07/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- TAND tỉnh Ninh Bình: 01 bản

Cỡ chữ