- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HS – ST Ngày: 05–4–2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Chung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Sinh và ông Bùi Quốc Thìn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Thanh Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST –HS ngày 21 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Đình T, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1977, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Q, sinh năm 1933 (chết) và bà Mai Thị C, sinh năm 1939; có vợ Đỗ Thị P, sinh năm 1978 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/11/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 16/3/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”. Đã chấp hành xong bản án vào năm 2011.
- Bị hại: Anh Phan Thanh T, sinh năm 1995; trú tại: Xóm 11, Thôn P, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị X, sinh năm 1960; trú tại: Xóm 11, Thôn P, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đình T và Phan Thanh Th đều ở Thôn P, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi) là anh em bà con trong họ với nhau.
Vào năm 2021, Th mượn của T số tiền 40.000.000 đồng để giải quyết công việc cá nhân (đã trả được 10.000.000 đồng) và hẹn đến tháng 5/2023 sẽ hoàn trả số tiền còn lại. Tuy nhiên khi đến hẹn, T nhiều lần điện thoại để đòi lại số tiền trên nhưng Th liên tục hứa hẹn và không nghe điện thoại của T.
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/6/2023, Trọng điều khiển xe mô tô BKS 76C1 – 262.X nhãn hiệu Honda Wave RSX đến nhà Th để đòi lại số tiền còn nợ. Khi đến nơi, T thấy Th đang ngủ nên gọi Th dậy để nói chuyện. Trong lúc nói chuyện thì giữa T và Th xảy ra mâu thuẫn cãi vã và Th có lời lẽ thách đố nên T dùng tay tát vào mặt của Th. Lúc này, Bà Hồ Thị X (sinh năm 1960 - là mẹ của Th) đang ngủ trong phòng nghe tiếng cãi nhau bên ngoài phòng khách nên đi ra, sau đó xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau với T. Do bực tức nên T dùng tay hất bà X làm bà X té ngã vào cạnh cửa. Thấy vậy, Th đến can ngăn thì bị T dùng chân đá vào người 01 (một) cái. Sau đó, T và Th tiếp tục xảy ra cãi vã nhau, T đi ra khu vực sân nhà đứng thì thấy xe mô tô BKS 16M – 47X, nhãn hiệu Wave, màu sơn đỏ đang để tại đây, đồng thời có sẵn chìa khoá trên xe nên T nảy sinh ý định lấy xe này về với mục đích để Th trả lại tiền cho mình nên T rút chìa khoá xe cầm trên tay, sau đó tiếp tục đứng cãi nhau với Th. Khoảng 15 phút sau thì T điều khiển xe mô tô BKS 16M – 47X đi về.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 74/KL.HĐĐGTS ngày 24/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Sơn định giá: Chiếc xe mô tô BKS 16M – 472X, nhãn hiệu Wave, màu sơn đỏ, trị giá 4.000.000đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Đình T đã tự nguyện thoả thuận, bồi thường cho Bà Hồ Thị X số tiền 7.000.000đồng, bồi thường thiệt hại về chi phí sửa xe mô tô BKS 16M – 4724 cho bị hại 1.000.000đồng. Bị hại và Bà Hồ Thị X không yêu cầu gì thêm; bị hai có đơn bãi nại và xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra Công an huyện Bình Sơn đã trả lại xe mô tô BKS 16M – 4724, nhãn hiệu Wave cho Anh Phan Thanh T.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT – VKSBS, ngày 17/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 06 đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét, giải quyết.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình lo cho mẹ già và các con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình T đã khai nhận hành vi phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Vào năm 2021, bị cáo Phạm Đình T có cho Anh Phan Thanh T vay số tiền 40.000.000đồng, anh Th đã trả được số tiền 10.000.000đồng, hẹn đến tháng 5/2023 sẽ hoàn trả số tiền còn lại. Tuy nhiên, khi đến hẹn, anh Th không trả nợ, bị cáo nhiều lần yêu cầu anh Th trả tiền nhưng anh Th không trả. Ngày 22/6/2023, Phạm Đình T đến nhà Bà Hồ Thị X ở thôn P, xã B, huyện S để gặp Phan Thanh Th đòi số tiền trên nhưng Phan Thanh Th không có tiền trả. Sau đó, hai bên xảy ra xô xác, cãi vã, làm cho bị hại Anh Phan Thanh T lo sợ sẽ bị đánh nên khi bị cáo Phạm Đình T tự ý lấy chiếc xe mô tô BKS 16M – 472X, nhãn hiệu Wave, trị giá 4.000.000đồng, với mục đích buộc anh Th đem tiền đến trả nợ để lấy xe về nên Anh Phan Thanh T không dám ngăn cản. Vì vậy, hành vi của Phạm Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được việc dùng thủ đoạn đe dọa và uy hiếp tinh thần người khác để chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật nên cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho Bà Hồ Thị X, đã bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi dưỡng mẹ già và 03con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại về tài sản bị thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình xảy ra cãi vã và xô xát với bị cáo Phạm Đình T, Bà Hồ Thị X bị thương ở tay trái nhưng bà X có đơn từ chối giám định thương tích; Phan Thanh Th bị T dùng tay, chân đánh vào người nhưng không gây thương tích gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn không xử lý bị cáo Phạm Đình T về hành vi cố ý gây thương tích là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Đình T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 05/4/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Công an; VKS; CCTHA huyện B.Sơn; - Đội CSĐT; Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CAH; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Bình Phước; - Lưu hồ sơ; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Đình Chung |