vanban.org

Bản án 38/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.

Chấp nhận cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Phan Nhật H1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 108/2010 ngày 22 tháng 6 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật. Về co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THỊ NGỌC H - NGUYỄN NHẬT H1"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-4-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Quang Nghĩa Ông Nguyễn Lương Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ- Kiểm sát viên Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 813/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm: 1991 Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. 2. Bị đơn: Anh Phan Nhật H1, sinh năm: 1983 Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày: Chị và anh Phan Nhật H1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Cuộc sống của anh chị hạnh phúc đến khoảng tháng 01/2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H1 hay nhậu nhẹt, chơi bời dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Anh H1 hay kiếm chuyện đánh đập vợ con. Anh chị đã không còn sống chung với nhau từ tháng 01/2023 đến nay. Trong thời gian vợ chồng không sống chung, gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắn tình cảm cho anh chị, bản thân chị cũng đã cho anh H1 nhiều cơ hội để sửa chữa nhưng không có kết quả, anh chị không thể gắn gắn được. Hiện nay, tình cảm vợ chồng đã không còn, chị không thể tiếp tục chung sống với anh H1 nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H1.

Về con chung: anh chị có 01 con chung là cháu Phan Thị Diễm N, sinh ngày: 21/12/2008. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.

Chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phan Nhật H1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: căn cứ các Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, chị H được ly hôn với anh H1. Về con chung: Giao con chung là Phan Thị Diễm N cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: đề nghị không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Ngọc H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó tiến hành xét xử vắng mặt chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Phan Nhật H1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H1 là phù hợp.

Về quan pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phan Nhật H1 và yêu cầu được nuôi con nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Phan Nhật H1 có nơi cư trú tại tổ B, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị H có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh H1, nên xác định chị H là nguyên đơn, anh H1 là bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị H khai cuộc sống của anh chị hạnh phúc đến khoảng tháng 01/2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H1 hay nhậu nhẹt, chơi bời dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Anh H1 hay kiếm chuyện đánh đập vợ con. Anh chị đã không còn sống chung với nhau từ tháng 01/2023 đến nay. Trong thời gian vợ chồng không sống chung, gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắn tình cảm cho anh chị, bản thân chị cũng đã cho anh H1 nhiều cơ hội để sửa chữa nhưng không có kết quả, anh chị không thể gắn gắn được. Hiện nay, tình cảm vợ chồng đã không còn, chị không thể tiếp tục chung sống với anh H1 nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H1.

Tại Biên bản xác minh ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại ấp T (bút lục số 20) thể hiện: anh Phan Nhật H1 hiện nay đang cư trú và sinh sống tại địa phương; về quan hệ hôn nhân anh H1 và chị H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2023 đến nay. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh H1 đến tham gia các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do cho thấy anh H1 có thái độ thờ ơ, không muốn hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị H cương quyết xin ly hôn với anh H1. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung là cháu Phan Thị Diễm N, sinh ngày: 21/12/2008.

Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N. Xét thấy, cháu N là con gái, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ; quá trình chị H và anh H1 không sống chung, cháu N do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; cháu N có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Do đó, nghĩ nên giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H trình bày anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết. Anh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về nợ chung: Chị H trình bày anh chị không có nợ chung. Anh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết. [8] Về án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. [9] Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 56, Điều 81 Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.

1. Chấp nhận cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Phan Nhật H1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 108/2010 ngày 22 tháng 6 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Diễm N cho chị Lê Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Ngọc H không yêu cầu anh Phan Nhật H1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Anh Phan Nhật H1 được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Lê Thị Ngọc H. Khi cần thiết, chị Lê Thị Ngọc H và anh Phan Nhật H1 được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009100 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Chị Lê Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ