- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Hà Thị H và anh Hà Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Hương ly hôn với anh Hà Văn Triển.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 5 năm 2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Hà Thị H và anh Hà Văn T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Vượng
Ông Nguyễn Văn Quang.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 30/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 530/2023/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HN&GĐ, ngày 15/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Hương, sinh năm 1994. Nơi ĐKHKTT: Thôn Dõn, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Nơi ở: Thôn Quang Minh, xã Tân Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Hà Văn Triển, sinh năm 1988. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Dõn, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt, không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị Hương trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị (Hà Thị Hương) và anh Hà Văn Triển là vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2015 tại UBND xã Tân Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Dõn, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không còn hoà hợp, bất đồng về quan điểm sống và kinh tế trong gia đình. Vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, cũng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không hòa hợp. Đỉnh điểm đến 6/2023, vợ chồng sống ly thân mỗi người ở một nơi không còn quan hệ tình cảm hay kinh tế với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục, chị đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn với anh Hà Văn Triển.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Hà Ngọc Bích, sinh ngày 01/02/2016. Khi ly hôn chị Hương đề nghị giao con chung cho anh Hà Văn Triển được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị Hương không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ: Chị Hương xác định vợ chồng chị không vay nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Hương tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi anh Hà Văn Triển đến Tòa để giải quyết vụ án, anh Triển biết nhưng không đến Toà án làm việc. Qua xác minh tại địa phương thể hiện nay anh Hà Văn Triển có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Dõn, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Do anh Triển không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành điều tra, xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Hương và Hà Văn Triển kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận; khoảng 6/2023 vợ chồng có mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Mặc dù đã được hai bên gia đình, chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành, vợ chồng không thể hòa giải được. Gia đình đã liên lạc thì anh Triển có ý kiến nhất trí ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết dứt điểm không cần hòa giải.
Về con chung: Anh Triển và chị Hương có một con chung là cháu Hà Ngọc Bích, sinh ngày 01/02/2016.
Về tài sản, vay nợ chung: Vợ chồng chị Hương, anh Triển không có.
Quan điểm của địa phương và gia đình anh Hà Văn Triển đều mong muốn vợ chồng anh chị Hương Triển đoàn tụ chung sống hạnh phúc nhưng nếu chị Hương và anh Triển vẫn kiên quyết ly hôn và không tự hòa giải được thì đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định. Về việc giao người trực tiếp trông nom nuôi dưỡng con chung thì địa phương và gia đình anh Hà Văn Triển đều đề nghị nên giao con chung của chị Hương, anh Triển cho anh Triển là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục vì kể từ khi vợ chồng sống ly thân con chung vẫn ở với anh Triển và ông bà nội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định, đề nghị giải quyết theo thủ tục chung theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Hà Thị Hương và anh Hà Văn Triển ly hôn; giao cháu Hà Ngọc Bích, sinh ngày 01/02/2016 cho anh Hà Văn Triển trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Chị Hà Thị Hương không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm con chung, không ai được cản trở.
Chị Hà Thị Hương phải chịu án phí theo quy định, anh Hà Văn Triển không phải nộp án phí; các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về pháp luật tố tụng: Nguyên đơn chị Hà Thị Hương khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với và anh Hà Văn Triển có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở tại thôn Dõn, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ Điều 28, Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập bị đơn anh Hà Văn Triển đến để làm việc nhưng anh Triển không có mặt nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Hà Thị Hương đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hà Văn Triển được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Hương và anh Hà Văn Triển kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không còn hoà hợp, bất đồng về quan điểm sống và kinh tế trong gia đình. Vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, cũng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không hòa hợp. Đỉnh điểm đến 6/2023, vợ chồng sống ly thân mỗi người ở một nơi không còn quan hệ tình cảm hay kinh tế với nhau. Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hà Văn Triển không đến Tòa án để làm việc, không tham gia các phiên họp, hòa giải do Tòa án tiến hành để nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Như vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hương và anh Triển đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho nguyên đơn chị Hà Thị Hương và bị đơn anh Hà Văn Triển ly hôn.
Về con chung: Chị Hà Thị Hương và anh Hà Văn Triển có một con chung là cháu Hà Ngọc Bích, sinh ngày 01/02/2016. Khi ly hôn, chị Hương đề nghị giao cháu Hà Ngọc Bích cho anh Hà Văn Triển được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục, chị Hương không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đề nghị của chị Hương phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngọc và gia đình anh Triển. Hơn nữa căn cứ kết quả xác minh tại địa phương thể hiện từ khi vợ chồng chị Hương, anh Triển ly thân, con chung của anh chị vẫn ở với bố, ông bà nội và học tập tại trường tiểu học tại xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần tuyên xử cho anh Hà Văn Triển trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Ngọc Bích là phù hợp. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, chị Hương đề nghị không cấp dưỡng, anh Triển không có ý kiến về nội dung này nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Do vậy, Hội đồng xét xử không buộc chị Hương phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và được quyền đi lại thăm con chung, không ai được cản trở. Anh Triển có quyền khởi kiện yêu cầu chị Hương cấp dưỡng tiền nuôi con chung bằng vụ án dân sự khác.
Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đương sự không thỏa thuận được với nhau về tài sản chung thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về vay nợ chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hà Thị Hương phải chịu án phí theo quy định; các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Hương ly hôn với anh Hà Văn Triển.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Ngọc Bích, sinh ngày 01/02/2016 cho anh Hà Văn Triển trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục.
Chị Hà Thị Hương không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hà Thị Hương phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001266, ngày 15/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Chị Hà Thị Hương đã nộp đủ án phí.
Anh Hà Văn Triển không phải nộp án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mươi lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Tăng Thị Hường Phạm Văn Vượng Nguyễn Văn Quang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - UBND xã Tân Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Hường |