vanban.org

Bản án 38/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Thanh Tr, cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Thanh Tr và anh Tô Thanh T.

Về án phí sơ thẩm: Chị Ngô Thị Thanh Thanh Tr chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004585 ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Tr và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Thanh Tr, cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Thanh Tr và anh Tô Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-5-2024
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024, về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thanh Tr, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975; Nơi cư trú: Xóm A, Thôn A, xã SK, huyện TL, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Anh Tô Thanh T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979; Nơi cư trú: Ấp BHT, xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn, bị đơn đều xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2024, bản tự khai đề ngày 04 tháng 3 năm 2024 của nguyên đơn chị Ngô Thị Thanh Tr trình bày: Chị và anh Tô Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã SK, huyện TL, tỉnh Bình Thuận, số Giấy chứng nhận kết hôn 33/2019 ngày 15 tháng 10 năm 2019. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hợp nhau, sống không hạnh phúc, dù đã cố gắng điều chỉnh rất nhiều để vợ chồng hiểu nhau, hòa hợp với nhau hơn và duy trì, vun vén hạnh phúc gia đình nhưng tình trạng không cải thiện. Hiện nay, tình cảm giữa anh chị không còn nên, chị yêu cầu được ly hôn với anh Tô Thanh T. Về nuôi con chung: Anh chị không có con chung. Về , tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có.

Bị đơn anh Tô Thanh T trình bày: Anh với chị Ngô Thị Thanh Tr cưới nhau vào năm 2019, trước khi tiến hôn nhân thì anh và chị Tr có tìm hiểu được khoảng 05 đến 06 tháng thì cưới, có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới thì sống chung với gia đình bên vợ được khoảng 02 năm thì về Hồng Ngự sinh sống, nhưng chị Tr sống ở đây không hợp nên được khoảng 01 năm thì về quê chị Tr sinh sống. Vợ chồng cũng có cải nhau chút đỉnh, nên chị Tr bỏ đi, cả hai đã không còn sống chung với nhau đã hơn 01 năm. Nay chị Tr yêu cầu ly hôn, anh cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh và chị Tr sống chung không có con. Về tài sản chung: Anh và chị Tr sống chung không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Anh và chị Tr chung sống không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Ngô Thị Thanh Tr được ly hôn với anh Tô Thanh T; về nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị Thanh Tr và anh Tô Thanh T trình bày không có, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Ngô Thị Thanh Tr và bị đơn anh Tô Thanh T đều đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Ngô Thị Thanh Tr và anh Tô Thanh T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của Ngô Thị Thanh Tr đối với anh Tô Thanh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Ngô Thị Thanh Tr thì cuộc sống của chị và anh Tô Thanh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hợp nhau, sống không hạnh phúc, anh chị đã không còn sống chung từ khoảng hơn 01 năm nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Thanh Tr và anh Thanh T hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và anh Thanh T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Thanh Tr. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Thanh Tr là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Ngô Thị Thanh Tr ly hôn với anh Tô Thanh T.

Về việc nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị Thanh Tr và anh Tô Thanh T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Thanh Tr, cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Thanh Tr và anh Tô Thanh T.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Ngô Thị Thanh Thanh Tr chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004585 ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ