- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Mai Thị T khởi kiện xin ly hôn với ông Hồ Văn G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Mai Thị T đối với bị đơn ông Hồ Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2024 V/v “Xin ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khƣơng và ông Hà Ứng Cƣơng
- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nam – Kiểm Sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST- HNGĐ, ngày 29 tháng 01 năm 2024, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị T, sinh ngày 01/01/1976
Nơi cư trú: ấp VH 2, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn G, sinh năm 1968
Nơi cư trú: ấp VH 2, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG
(Ông G được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Mai Thị T trình bày: Vào năm 1995, bà và ông Hồ Văn G quen nhau và có làm lễ cưới sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã VHH, huyện CT, tỉnh KG. Thời gian đầu ông bà chung sống rất hòa thuận, hạnh phúc và có 04 người con chung Hồ Văn Đ, sinh ngày 24/8/1996; Hồ Đ E, sinh ngày 21/9/1999; Hồ Văn Đ1, sinh ngày 03/11/2005 và Hồ Thị Q, sinh ngày 17/8/2008 nhưng đến khoảng thời gian gần đây thì giữa chúng tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và ông bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn mâu thuẫn nhau. Bà và ông G đã sống ly thân nhau đã hơn 04 năm nay. Nay bà cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà khởi kiện xin ly hôn.
Tại phiên tòa bà Mai Thị T có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với ông Hồ Văn G
- Về việc nuôi con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng 01 người con chung tên Hồ Thị Q, sinh ngày 17/7/2008. Không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Hồ Văn G: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Hồ Văn G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, ông Hồ Văn G đã nhận được thông báo thụ lý vụ án. Nhưng qua thời gian luật định ông Hồ Văn G vẫn không có văn bản tự khai và cũng không có ý kiến gì gửi đến Tòa án. Sau đó, Tòa án tiếp tục tống đạt cũng như niêm yết nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật nhưng ông Hồ Văn G vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị T, cho bà Mai Thị T được ly hôn với ông Hồ Văn G.
- Về con chung: Giao 01 người con chung tên Hồ Thị Q, sinh ngày 17/7/2008 cho ông Hồ Văn G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Mai Thị T xác định là không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xE xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị T thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn Mai Thị T yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Hồ Văn G và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là Hồ Thị Q, sinh ngày 17/7/2008. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Xin ly hôn và nuôi con chung”.
- Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơn ông Hồ Văn G đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Hồ Văn G vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Mai Thị T thống nhất yêu cầu xét xử vắng mặt ông Hồ Văn G. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Hồ Văn G theo quy định pháp luật.
- Về nội dung: Bà Mai Thị T và ông Hồ Văn G chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị T yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn G, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Mai Thị T xác nhận, sau khi kết hôn thì giữa bà và ông Hồ Văn G chung sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì giữa ông bà hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên ông bà đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Đối với ông Hồ Văn G mặc dù Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải để mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên bà T và ông Hồ Văn G có cơ hội hàn gắn đoàn tụ nhưng ông Hồ Văn G vẫn vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để ông Hồ Văn G có mặt tham gia phiên tòa nhưng ông Hồ Văn G vẫn vắng mặt. Tại phiên toà, bà Mai Thị T vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông Hồ Văn G và trên thực tế ông bà đã ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa bà Mai Thị T và ông Hồ Văn G đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó, xét thấy việc bà Mai Thị T xin được ly hôn đối với ông Hồ Văn G là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Mai Thị T đối với ông Hồ Văn G.
Về con chung: Bà Mai Thị T xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng chị có có 04 người con chung Hồ Văn Đ, sinh ngày 24/8/1996; Hồ Đ E, sinh ngày 21/9/1999; Hồ Văn Đ1, sinh ngày 03/11/2005 và Hồ Thị Q, sinh ngày 17/8/2008. Do hiện nay Hồ Văn Đ, sinh ngày 24/8/1996; Hồ Đ E, sinh ngày 21/9/1999; Hồ Văn Đ1, sinh ngày 03/11/2005 đã trưởng thành nên không yêu cầu xE xét. Còn Hồ Thị Q, sinh ngày 17/8/2008 chưa Đ1 18 tuổi và hiện đang sống cùng ông Hồ Văn G. Nay bà Mai Thị T thống nhất giao cháu Hồ Thị Q, sinh ngày 17/8/2008 cho ông Hồ Văn G tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. HĐXX nhận thấy kể từ sau khi ông bà sống ly thân cho đến nay thì cháu Q sinh sống với ông Hồ Văn G nên HĐXX thống nhất tiếp tục giao cháu Hồ Thị Q, sinh ngày 17/8/2008 cho Hồ Văn G tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sinh sống của cháu và phù hợp với ý chí và nguyện vọng của bà Mai Thị T.
Bà Mai Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập ông Hồ Văn G đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Hồ Văn G vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất để xác định về tài sản chung cũng như nợ chung giữa ông bà được. Mặt khác, tại phiên toà bà Mai Thị T khẳng định ông bà không tạo lập được tài sản gì chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung và nợ chung HĐXX không xem xét nếu sau này ông bà hoặc cơ quan tổ chức, cá nhân nào khác có yêu cầu thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
- Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bà Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng chị được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001291 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Mai Thị T đối với bị đơn ông Hồ Văn G.
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Mai Thị T được ly hôn với bị đơn ông Hồ Văn G.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Hồ Thị Q, sinh ngày 17/8/2008 cho ông Hồ Văn G tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Bà Mai Thị T không cấp dưỡng nuôi con.
Bà Mai Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Bà Mai Thị T xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Mai Thị T xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Bà Mai Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001291 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - THADS huyện Châu Thành; - UBND xã Vĩnh Hòa Phú - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Đẩu |