- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Huỳnh Hoàng H - Lê Mười M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hoàng H như sau:
- Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/DS-ST Ngày 06 - 9 - 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH CÀ MAU
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: OÂng Huỳnh Minh Tính
Các vị Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Tươi
Ông H Bảo Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoản phiên tòa số: 17/2024/QĐ-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Hoàng H, sinh năm 1958 (Có mặt)
Trú tại: ấp Ô Rô, xã Tân Ân, trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: 1. Ông Lê Mười M, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
2. Bà Hồ Thị Th, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Cùng trú tại: khóm 4, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2024 và các lời trình bày tại Tòa án ông Huỳnh Hoàng H trình bày như sau:
Ngày 29 tháng 12 năm 2019 ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th có vay của tôi số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), lãi suất hai bên tự thỏa Th, ông M và bà Th hứa khi nào tôi cần tiền thì sẽ hoàn trả lại cho tôi. Tuy nhiên, nhiều lần tôi liên lạc với ông M và bà Th lấy tiền nhưng ông M và bà Th chỉ trả cho tôi số tiền 7.000.000 đồng, còn lại 13.000.000 đồng ông M và bà Th hứa hẹn hết lần này đến lần khác mà không có thiện chí trả lại tiền cho tôi.
Từ những lý do nêu trên tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N buộc ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th phải trả cho tôi số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
Đối với bị đơn ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 52/2024/TB-TLVA ngày 24/4/2024 và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công chứng cứ và hòa giải số 50/2024/TB-TA ngày 16/5/2024 nhưng ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th đều vắng mặt không lý do, Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai nhưng ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th không có mặt. Đối với ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân huyện N, củng không có đơn yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ơ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn ông Huỳnh Hoàng H với bị đơn ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.
Xét nội dung tranh chấp: Nguyên đơn ông H cho rằng có cho ông M và bà Th vay tiền, lãi suất thỏa Th, nhưng từ khi vay cho đến nay ông M và bà Th không trả tiền vốn và lãi, mặc dù ông H đã nhiều lần đến gặp để đòi tiền nhưng ông M và bà Th cứ hẹn lần, hẹn lựa nhưng không trả tiền cho ông H. Nay ông H yêu cầu ông M và bà Th phải trả số tiền vốn 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng), không yêu cầu tính lãi suất.
Xét thấy việc ông H cho ông M và bà Th vay tiền là thực tế có xãy ra. Bởi lẽ, việc ông H cho ông M và bà Th vay tiền mặc dù không có làm biên nhận nợ nhưng bà Hồ Thị Th (là vợ của ông Lê Mười M) đã có bản tự khai ngày 06/8/2024 trực tiếp ký tên, ghi họ tên và thừa nhận có vay số tiền 20.000.000 đồng của ông H, lãi suất hai bên tự thỏa Th. Trong quá trình vay tiền thì có trả cho ông H số tiền 7.000.000 đồng, nay còn thiếu ông H 13.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình vay tiền thì ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th không trả tiền vốn, lãi nên ông H khởi kiện yêu cầu ông M và bà Th phải thực hiện việc trả số tiền trên cho ông H là có căn cứ nên được chấp nhận. Do đó, buộc ông M và bà Th phải có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền vốn là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
Xét yêu cầu tính lãi suất của ông H thấy rằng: Tại phiên tòa, ông H không yêu cầu ông M và bà Th trả lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Như vậy, tổng số tiền buộc ông M và bà Th trả cho ông H là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) là đúng theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông M và bà Th phải chịu số tiền là 650.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463 của Bộ luật dân sự. Các Điều 26, 35, 91, 144, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 27/12/2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hoàng H như sau:
Buộc ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th phải có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Hoàng H số tiền là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì Hng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Lê Mười M và bà Hồ Thị Th phải chịu số tiền là 650.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện N.
Án xử sơ thẩm công khai, ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ông M và bà Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa Th thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hnh án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |